Phân tích tác phẩm Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài – Ngữ văn 11

| Tin mới | Tag:

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI

(Trích Vũ Như Tô)

I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho có tinh thần yêu nước, quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ khi còn là học sinh ở Hải Phòng, ông đã tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học sinh. Ông sớm nuôi chí hướng viết văn để kí thác tấm lòng với đất nước. Cùng với các hoạt động trong phong trào Việt Minh và gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc những năm trước Cách mạng, ông sáng tác một số tiểu thuyết (Đêm hội Long Trì – 1942, An Tư- 1945) và kịch lịch sử (Vũ Như Tô – 1941, Cột đồng Mã Viện – 1944). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn tích cực hoạt động trong phong trào văn nghệ cách mạng, là một trong những người phụ trách Hội Văn hoá cứu quốc và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

-Trong gần 20 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, Nguyễn Huy Tưởng có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam hiện đại. Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử, khao khát sáng tạo được những tác phẩm có quy mô lớn, dựng được những hình tượng hoành tráng về lịch sử dân tộc. Ông có nhiều thành công hơn ở thể loại tiểu thuyết và kịch, trong đó, vở kịch Vũ Như Tô là thành công quan trọng nhất của nhà văn trong giai đoạn trước năm 1945.

2.Tri thức văn hoá

-Vũ Như Tô được hoàn thành vào năm 1941, năm Nguyễn Huy Tưởng mới 29 tuổi, nhưng người đọc cứ hình dung nhà văn như là một con người đã nếm trải đủ mùi cay đắng ở cuộc đời. Năm 1941 là năm chủ nghĩa phát xít đang hoành hành ngang dọc trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, chính quyền thực dân đàn áp tàn bạo phong trào yêu nước, bất cứ hình thức hoạt động nào có tính chất dân tộc đều bị cấm đoán. Vũ Như Tô ra đời là một cách nói gián tiếp phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến đương thời hà khắc không thể bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc một cách mạnh mẽ được. Giữa vô số chàng và nàng uỷ mị, sướt mướt trong văn học công khai đương thời, hình ảnh Vũ Như Tô, Đan Thiềm xuất hiện thật là đẹp đẽ, cao quý. Họ thức tỉnh và kêu gọi những ai còn cả tin ngây thơ gửi gắm số phận và nghệ thuật vào “lòng tốt” và sự “anh minh” của bọn thống trị, kêu gọi đấu tranh để bảo vệ tài năng và nhân phẩm. Đằng sau mỗi lời nói của nhân vật chính ở hồi cuối vở kịch là một nỗi lo âu, một thái độ trách nhiệm với văn hoá dân tộc.

-Dường như sáng tác vở Vũ Như Tô là một cách Nguyễn Huy Tưởng tư duy về lịch sử, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và nhân dân, về con đường đi của người nghệ sĩ, về văn hoá Việt Nam,… về tất cả những gì mà người dân Việt Nam phải chịu đựng, dằn vặt, giày vò đấu những năm 40 trước Cách mạng. Vở kịch như chỉ để mà kể chuyện đời xưa, thời vua Lê Tương Dực những năm 1516 – 1517 nhưng người đọc vẫn nhận ra tấm lòng, ước mơ giản dị của ông, của những người Việt Nam thời thực dân phong kiến – nhà văn đang nói về sự “nhận đường” của chính mình vào cái thời ông đang sống, vào năm 1941 đen tối : về với dân tộc. Đọc Vũ Như Tô, cần cảm nhận được dấu ấn sáng tạo độc đáo đó của nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng giàu lương tri, đầy trăn trở giữa cuộc thế thái bát nháo, nan giải trước khi ông có ý thức về cách mạng.

3.Tri thức về thể loại

-Vũ Như Tô là một vở bi kịch lịch sử gồm năm hồi. Bi kịch là một thể của loại hình kịch nói chung. Ngoài đặc điểm chung của loại kịch, bi kịch có đặc điểm riêng, thể hiện qua một số yếu tố của bi kịch (xung đột, nhân vật,…). Xung đột bi kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn ; mọi cách giải quyết, khắc phục những mâu thuẫn đó đều dẫn đến cái chết, gây nên suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với người đọc (người xem). Nhân vật bi kịch đồng thời mang trong mình khát khao cao cả và những lỗi lầm không thể tránh khỏi. Lỗi lầm của Vũ Như Tô là lỗi lầm bi kịch : tưởng rằng có thể thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình trong cuồng vọng của hôn quân bạo chúa, trong chế độ không có chỗ cho sự khát khao đó. Nhân loại tìm thấy ở vở bi kịch những gì khủng khiếp mà cái ác có thể gieo rắc, do đó, không thể bàng quan và chịu khuất phục trước sức mạnh tàn bạo của nó. Kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa thức tỉnh và dự báo về một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống và trong mỗi con người.

-Vở kịch Vũ Như Tô ngoài đặc điểm của một vở bi kịch lịch sử, cũng có phần đóng góp và thúc đẩy quá trình phát triển cho thể loại văn học còn mới mẻ ở Việt Nam : nhân vật kịch có chiều sâu nội tâm và đầy sức ám ảnh, lời thoại dài ngắn hợp lí vừa có khả năng tạo hành động vừa có ý nghĩa khắc hoạ nội tâm, tính cách nhân vật ; bố cục các hồi, các lớp, các cảnh chặt chẽ, tạo sức hấp dẫn lôi cuốn ngay từ đầu và ngày càng tăng ; đặc biệt tác phẩm kịch này vừa đảm bảo tính chân thật lịch sử (sự việc xây Cửu Trùng Đài với các nhân vật cụ thể được ghi trong Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn thế kỉ XIX), vừa đạt giá trị chân thật nghệ thuật (hư cấu nghệ thuật trong xây dựng các nhân vật kịch “lạ mà quen”, trong tạo dựng hoàn cảnh điển hình “có thể có”,…).

Phân tích đoạn trích, phân tích tâm lí, tính cách nhân vật Vũ Như Tô, Đan Thiềm cần chú ý đến đặc trưng loại thể đó.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Vị trí của đoạn trích trong vở kịch Vũ Như Tô

-Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào những năm 1516 – 1517.

Lê Tương Dực là một ông vua tàn bạo, hoang dâm, muốn xây dựng Cửu Trùng Đài làm nơi ăn chơi hưởng lạc với các cung nữ; Người có thể giúp y thực hiện ý định ngông cuồng ấy chỉ có Vũ Như Tô, một kiến trúc sư có tài. Nhưng Vũ Như Tô vốn là một nghệ sĩ chân chính lại từ chối (hồi I).

Một cung nữ tên là Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô chấp nhận lời yêu cầu của Lê Tương Dực, vì làm như vậy cũng nhằm để xây cho đất nước, cho hậu thế một toà lâu đài “bền như trăng sao” có thể hãnh diện với nghìn thu, với thế giới. Ông dốc toàn tâm sức vào việc đó sao cho Cửu Trùng Đài thật uy nghi, tráng lệ. Công việc càng tiến triển thì mâu thuẫn giữa nhà vua và phe đối lập của Quận công Trịnh Duy Sản càng trở nên gay gắt, theo đó, mâu thuẫn giữa “tổng công trình sư” Vũ Như Tô với chính những ngưòi thợ, những người trợ giúp ông bị phe đối lập chia rẽ, xúi bẩy, đe doạ cũng dần dần trở nên căng thẳng (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn đến độ cần giải quyết, Trịnh Duy Sản cầm đầu phe đối lập dấy binh nổi loạn, giết Lê Tương Dực, Đan Thiềm, Vũ Như Tô và cho thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (hồi V).

-Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chính là toàn bộ hồi V của vở kịch Vũ Như Tô, gồm chín lớp kịch. Sự việc diễn ra và đi đến giải quyết ở hồi V được nung nấu và phát triển ở bốn hồi trước : Biết tin có biến, Đan Thiềm thúc giục Vũ Như Tô trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Vũ Như Tô không nghe và tin rằng ông “chính đại quang minh”. Tình hình càng nguy kịch: vua bị giết, Đan Thiềm bị bắt và bị sỉ nhục,… Khi quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài thành tro bụi thì Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Ông đau đớn vĩnh biệt công trình dang dở của đời mình và bình thản ra pháp trường.

2.Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch

a.Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực

Cầm đầu phe nổi loạn là Quận công Trịnh Duy Sản. Sau Trịnh Duy Sản là võ sĩ Ngô Hạch, An Hoà Hầu. Vì can ngăn vua không xây Cửu Trùng Đài, đòi giết Vũ Như Tô nhưng không được lại còn bị đánh nhục nhã, Trịnh Duy Sản “giả mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn”,- Chúng đã lợi dụng, xúi bẩy thợ xây Cửu Trùng Đài và dân chúng để lôi kéo họ làm phản phục vụ cho mục đích riêng của phe đối lập trong triều.

Mâu thuẫn này tượng trưng cho mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến : mâu thuẫn giữa bọn thống trị và những người bị trị, giữa lợi ích của hôn quân bạo chúa và quyền sống của nhân dân bị áp bức.

Mâu thuẫn này được thể hiện chủ yếu ở các hồi trước hồi V (xoay quanh việc xây hay không xây Cửu Trùng Đài, việc xây Cửu Trùng Đài đã ngốn bao tiền của, sức lực kể cả tính mạng của những ngưòi lao động,…), thành cao trào ở hồi cuối cùng (Lê Tương Dực bị giết, các cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ ; dân chúng hò reo đốt phá Cửu Trùng Đài, nguyền rủa Vũ NhưTô, Đan Thiềm,…).

Ở vở kịch Vũ Như Tô, mâu thuẫn thứ nhất là cái cớ, làm nền cho ý tưởng mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đau đáu gửi gắm qua việc đề cập đến mâu thuẫn thứ hai của vở kịch.

b.Mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ và lọi ích thiết thực của nhân dân

Sự hình thành và diễn biến của mâu thuẫn này trong các hồi kịch trước gắn với câu chuyện xây Cửu Trùng Đài vớ những chuyển động trái chiều nhau, diễn biến với các xung đột dữ dội và dẫn đến kết thúc với nhiều xác chết, trên nền lụa đỏ lẫn tro bụi của Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô bình thản ra pháp trường…

Mâu thuẫn thứ hai, ở hồi V, bị đẩy lên đỉnh điểm. Nếu như ở bốn hồi trước, nó chỉ là mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong mâu thuẫn thứ nhất thì ở cuối đoạn trích, nó được hoà nhập làm một. Chính mâu thuẫn thứ hai này là “lỗi lầm bi kịch” của Vũ Như Tô – người kiến trúc sư có tài ấp ủ một hoài vọng “đem hết tài ra xây cho nòi giống một toà đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hoá công”. Vũ Như Tô theo lời khuyên của Đan Thiềm tưởng rằng có thể mượn thế lực và đồng tiền của bạo chúa để thực hiện được khát vọng nghệ thuật chính đáng của mình. Ông đã bất chấp tất cả – tiền của, mồ hôi, xương máu của bao người thợ, thậm chí cả sức lực và tính mạng của bản thân. Chính sự đắm chìm trong công trình Cửu Trùng Đài cao cả, dần dần ông đã mất hẳn chỗ đứng trong cuộc đời, hơn thế nữa, thành kẻ bị cô lập, cô độc và cuối cùng phải nhận cái chết thảm khốc. Đấy là bi kịch của một nghệ sĩ “thuần tuý”, một kẻ mơ hồ, ngây thơ về chính trị, không biết đứng về phía nhân dân. Từ một người phản đối nhu cầu ăn chơi sa đoạ của kẻ thống trị, vô hình trung ông lại tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho bọn thống trị ; từ một người biết tôn trọng lao động của nhân dân, ông đã vô tình làm khổ họ, đày đoạ và li tán bao gia đình ; từ một người yêu đất nước, ông trở thành kẻ làm hại dân hại nước… Vũ Như Tô đâu biết rằng có bao chuyện còn cần thiết hơn việc xây Cửu Trùng Đài, có những thứ còn quý hơn cả nghệ thuật kiến trúc. Tách rời lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, tách rời cuộc sống, nghệ thuật không thể tồn tại, tài năng của người nghệ sĩ không thể phát triển.

Việc giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch được tiếp nhận với nhiều ý kiến khác nhau trong nhiều năm qua. Tạo được cái kết “bỏ ngỏ” đầy ám ảnh khiến ngưòi đọc nhiều thế hệ sau tiếp tục tìm lòi giải đáp là một nỗ lực không nhỏ của ngưòi viết vào những năm ông còn băn khoăn “tìm đường” đó.

3.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô, Đan Thiềm

a.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

Vũ Như Tô là hình tượng nhân vật biểu tượng cho niềm khát khao sáng tạo và đam mê cái đẹp. Ở những hồi kịch trước, nhà văn đã chuẩn bị cho người đọc cuộc kì ngộ giữa Vũ Như Tô, người có tài đam mê cái đẹp, và Đan Thiềm, người cung nữ tài sắc, thâm trầm đam mê cái tài, để từ đó, tính cách nhân vật này được phát triển theo sự tiến triển của câu chuyện xây Cửu Trùng Đài đầy trắc trở, mâu thuẫn thứ nhất được giải quyết một phần nhưng lại là sự khởi đầu của một mâu thuẫn mới, chuẩn bị cho một cao trào mới. Từ lúc thà chết chứ không xây đài cao cho hôn quân bạo chúa đến lúc được Đan Thiềm khai mở, ông đã đắm chìm trong mộng tưởng sáng tạo là hai mặt mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tính cách nhân vật Vũ Như Tô – nghệ sĩ. Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài không còn là toà lâu đài của bạo chúa ; nó thành biểu tượng của cái đẹp mà kẻ sĩ như ông phải dốc toàn tài, nó thành lẽ sống của cả đời kẻ sĩ.

Diễn biến tâm trạng qua các lời thoại của Vũ Như Tô ở chín lớp kịch trong hồi cuối xoay quanh việc tìm lời giải çho câu hỏi lớn trong tâm tưởng của ông : “Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai ?”, “Việc ông đang làm là có công hay có tội ?”. Bi kịch của Vũ Như Tô là ở chỗ ông không tự giải đáp được câu hỏi tưởng như đơn giản đó, bởi ông chỉ đứng trên lập trường của cái đẹp “thuần tuý” mà xa rời cuộc sống của nhân dân, vô tình làm phương hại đến lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Hành động mà ông lựa chọn và quyết định (không theo lời khuyên của Đan Thiềm là phải trốn chạy để bảo toàn tính mạng) chứng tỏ con người này không thể điều hoà nổi sự mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc lâu dài (xây Đài để khẳng định địa vị của dân tộc Việt trước các dân tộc khác) và thực tế đời sống trước mắt của đại bộ phận nhân dân (Đài càng cao thì càng mất nhiều tiền của, công sức của thợ, của dân…). Ông không tỉnh táo bằng Đan Thiềm, vẫn quá tự tin vào ý tưởng tốt đẹp của mình nên khi giấc mộng nghệ thuật của đời ông sụp đổ (Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ), ông đau đớn kinh hoàng. Nỗi đau ấy bật thành tiếng rú tuyệt vọng : “Ôi mộng lớn ! Ôi Đan Thiềm ! Ôi Cửu Trùng Đài !”. Tiếng kêu đó rồi cũng bị ngọn lửa thiêu huỷ Cửu Trùng Đài nuốt chửng. Trên nền lửa đỏ tro tàn ấy, người kiến trúc sư đầy ảo tưởng ấy biết đời mình thế là hết. Trong cảnh bát nháo, náo loạn giữa triều đình và phe nổi loạn, ông bình thản ra pháp trường.

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô ở hồi V góp phần hoàn chỉnh tính cách bi kịch ở nhân vật chính, làm nổi rõ hướng giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch và cũng là chủ đề của tác phẩm Vũ Như Tô.

b.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm

Nếu Vũ Như Tô là ngưòi đam mê cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, tài sáng tạo cái đẹp. Cái tài mà nàng trọng phải là cái tài có ích, cái tài ấy phải được thi thố trong việc tô điểm cho đất nước, nâng cao địa vị cho dân tộc. “Bệnh” của Đan Thiềm là bệnh của người tài, người có hoài bão đam mê sáng tạo. Ước mong cháy bỏng của người cung nữ này là làm sao để nước nhà có một Cửu Trùng Đài tráng lệ. Đó là một ước mơ đẹp của một người có nhân cách, có tinh thần dân tộc. Ở các hồi trước, Đan Thiềm đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực với mục đích “làm cho đất Thăng Long này trở thành nơi kinh kì lộng lẫy nhất trần gian”. Và thế là, cũng như Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài trở thành lẽ sống của phần đời còn lại của người cung nữ lạ lùng này nơi cung đình. Nàng tìm cách lợi dụng bọn quan lại, vui niềm vui của những người thợ và sung công mọi đồ tế nhuyễn để xây Đài. Có biến, Đan Thiềm không nghĩ đến sự sống còn của bản thân mà đi tìm Vũ Như Tô, hai lần van lạy ông hãy mau trốn tránh và nghĩ rằng nếu ông mất đi thì “nước ta không còn ai tô điểm nữa”. Khi quân nổi loạn đến, Đan Thiềm cam chịu sỉ nhục, quỳ xuống van xin tên võ sĩ Ngô Hạch tha cho Vũ Như Tô : “Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài”. Khi bị quân Ngô Hạch trói lại, nàng vô cùng tuyệt vọng vì biết rằng không thể cứu được Vũ Như Tô đã đau đớn vĩnh biệt ông : “Ông Cả ! Đài lớn tan tành ! Ông Cả ơi ! Xin cùng ông vĩnh biệt !”.

Diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm trong bảy lớp kịch ở hồi V góp phần thể hiện toàn vẹn tính cách bi kịch của Vũ Như Tô, làm rõ hơn sự giải quyết mâu thuẫn thứ hai và cũng là chủ đề của vở kịch.

4.Lời tựa vở kịch Vũ Như Tô

Ngày 8 – 6 – 1942, Nguyễn Huy Tưởng chép lại vở kịch viết xong từ mùa hạ năm 1941 và đặt bút viết Đề tựa cho nó. Chắc hẳn ông linh cảm được rằng những suy tư, dằn vặt mà mình gửi gắm vào tác phẩm không dễ được tiếp nhận. Ông viết Đề tựa dường như để nói rõ hơn, cụ thể hơn ý đồ nghệ thuật của mình nhằm để người đọc thấu hiểu cho ông.

Trong lời tựa, Nguyễn Huy Tưởng đã tóm tắt nội dung vở kịch Vũ Như Tô bằng ba câu hỏi buộc phải lựa chọn đầy băn khoăn, đặc biệt nhắc lại nhức nhối hai lần câu : “Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ?”. Ông nói rằng : “Ta chẳng biết”, thực ra là ông biết rất rõ, Cái ý của ông thể hiện qua lời thoại của nhân vật Đan Thiềm là nhà văn cảm phục “tài trời” và sức sống bất diệt của người dân Việt, đồng thời lại tủi hổ cho nỗi thiệt thòi của ngưòi dân Việt. Việt Nam đâu thiếu người tài, vậy mà chỉ vì miếng cơm manh áo hằng ngày ghì họ sát đất nên họ không phát triển về đường văn hoá nghệ thuật bằng ngưòi. Trước thực tế lịch sử đó, người cầm bút yêu dân yêu nước ngậm ngùi thấy mình “cùng một bệnh với Đan Thiềm” cũng là điều dễ hiểu. “Bệnh Đan Thiềm” là sự khao khát được thăng hoa sáng tạo những tài năng trong mỗi người cho đất nước, cho dân tộc.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TINH THẦN THỂ DỤC – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Share

  • Click to share on Twitter (Opens in new window)
  • Click to share on Facebook (Opens in new window)
  • Click to share on Google+ (Opens in new window)
  • Share on Skype (Opens in new window)

Related

Bình luận
0

Bình luận