Phân tích tác phẩm Chiều Xuân -Ngữ văn 11

| Tin mới | Tag:

CHIỀU XUÂN

I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-Anh Thơ (1921 – 2005) tên khai sinh là Vương Kiều Ân, sinh tại thị trấn Ninh Giang (nay là thị xã Ninh Giang), tỉnh Hải Dương ; xuất thân trong một gia đình công chức, quê gốc ở thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tuổi thơ của Anh Thơ gắn bó với thôn xóm, làng quê. Anh Thơ chịu ảnh hưởng của gia đình bên ngoại (ông ngoại là cụ Phó bảng Kiều Oánh Mậu) và lớn lên giữa lúc phong trào Thơ mới đang sôi nổi. Nữ sĩ đến với thơ như tìm con đường tự giải thoát khỏi cuộc sống tù túng, buồn tẻ và khẳng định giá trị của người phụ nữ trong xã hội đương thời. Anh Thơ có thơ đăng báo từ năm 1937, được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn năm 1939. Bà có sở trường viết về cảnh sắc nông thôn, gọi được không khí và nhịp sống của đồng quê Bắc Bộ. Anh Thơ là nữ sĩ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Bà từng là uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I và II). Năm 2001, Anh Thơ được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật ; năm 2007, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

-Bài thơ Chiều xuân được rút từ tập thơ đầu tay của Anh Thơ : tập Bức tranh quê (1941). Đúng như tên gọi Bức tranh quê, tập thơ là những bức tranh bằng thơ vẽ cảnh thôn quê thời đó, mỗi bài thường có ba khổ thơ, mười hai câu, mỗi câu tám chữ, có kết cấu khá giống nhau nhưng các chi tiết được quan sát đều hết sức sắc sảo, không trùng lặp. Tập thơ bắt đầu bằng các cảnh mùa xuân rồi lần lượt mùa hạ, mùa thu, mùa đông với cả các bài thơ tết. Bài Chiều xuân được in ở đầu tập Bức tranh quê.

2.Tri thức văn hoá

Đọc hồi kí Từ bến sông Thương (1986), người đọc mới biết Anh Thơ viết Bức tranh quê phải giấu bố, viết vụng trộm vì nếu bố bắt được là phải ăn đòn. Ngày đó, các cụ quan niệm con gái mà làm thơ dễ bị ế chồng, chỉ tổ viết thư cho giai.

Thế mà Anh Thơ vẫn lén lút làm thơ, lén lút đưa thơ đi dự thi và có giải thưởng từ năm 1939 của Tự lực văn. đoàn, bước vào làng thơ từ đó.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Chọn chiều xuân mưa bụi giăng giăng là Anh Thơ muốn có dịp nói đến đặc trưng của thời tiết nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Nông thôn Việt Nam thời đó còn yên tĩnh, có phần ngưng đọng. Trong chiều xuân mưa lạnh, nơi bến sông, trên con đê rìa làng càng tiêu điều, vắng vẻ. Ba đoạn thơ là ba cảnh chiều xuân mà mỗi cảnh đều là kết quả của sự quan sát đặc biệt tinh tế. Cảnh đầu tiên :

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Có thể đặt tên cho cảnh này là bến đò vắng chiều xuân, một khung cảnh dường như không âm thanh, không màu sắc tươi sáng : mưa bụi “đổ” rất êm, bến vắng, con đò “biếng lười nằm mặc nước sông trôi”, một quán nước không bóng người, chỉ có tiếng rơi rất nhỏ, rất nhẹ của những cánh hoa xoan tím nhưng nó cũng lẫn với màu mưa xuân và chìm trong cái vắng lặng của trời chiều.

Cảnh hai là con đường đê chiều xuân :

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Vẫn làn mưa bụi ấy bay giăng giăng nhưng đã có sự hoạt động : thỉnh thoảng có đàn sáo “sà xuống mổ vu vơ”, mấy cánh bướm rập rờn “trôi trước gió”, có trâu bò thong thả “cúi ăn mưa”, gặm “cỏ non tràn biếc cỏ”. Đoạn thơ có nhiều nét thơ mộng, tươi mát chứng tỏ người viết có biệt tài quan sát, lại có hồn thơ nên cảnh là thực mà có chút gì đó kì ảo : “cỏ non tràn biếc cỏ”, “Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” ; “Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa”. Cái cách tả cảnh như Anh Thơ đâu dễ có. Phải là người gắn bó sâu nặng với cảnh quê, phải có cái nhìn phát hiện được những điều mới mẻ, kì thú từ cảnh vật, con người bình thường của cuộc sống nơi thôn dã mới tạo nên cái lung linh, sinh động của cảm xúc như vậy. Đó là điều vô cùng đáng quý ở Anh Thơ.

Cảnh thứ ba vẫn là cảnh thường thấy ở thôn quê : cảnh ngoài cánh đồng lúa đang mùa cào cỏ. Khổ thơ này rất dễ bằng phẳng nếu thiếu đi những sự đột biến. Đó là sự “vụt bay ra” của lũ cò con và cái “giật mình” ngơ ngác của “cô nàng yếm thắm” :

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

So với cảnh đầu của bài thơ, không gian ở khổ thơ này hoạt động hơn, ấm áp hơn, có bóng dáng của con người nên nó tràn trề sức sống : “lúa xanh rờn và ướt lặng” hứa hẹn một mùa vàng chứ không phải “chòm xoan hoa tím rụng”, lũ cò con nghịch ngợm “chốc chốc vụt bay ra” làm náo động sự tĩnh lặng bình yên, làm “giật mình một cô nàng yếm thắm”. Sự xuất hiện của con người lao động, một thôn nữ trẻ trung yếm thắm đang “cúi cuốc cào cỏ” cho ruộng lúa đang “sắp ra hoa’’ đem lại cảm giác ấm áp, điểm xuyết nét son tươi rói cho bức tranh chiều xuân nhạt nhoà ở hai cảnh trước đó bừng sáng. Thực ra đó là những cảnh bình thường ở làng quê xưa, quen thuộc hằng ngày, ai cũng thấy, nhưng qua mắt nhìn của Anh Thơ bỗng nhiên như mới lạ, đầy kì thú. Có lẽ sống ở quê từ tấm bé, những cảnh sắc quê hương thấm vào thi sĩ từ tuổi ấu thơ nên Anh Thơ mới diễn đạt cảnh quê một cách tinh tế và độc đáo như vậy. Nhà thơ cảm nhận được chất thơ, cái đẹp trong cuộc sống bình dị hằng ngày.

Chiều xuân cũng như nhiều bài thơ khác trong Bức tranh quê không đặt vấn đề gì to tát, hệ trọng của cuộc sống, của thời đại. Bài thơ ghi nhận một sở thích của nhà thơ : viết về những điều trông thấy quanh mình. Chiều xuân hay ở sự quan sát cảnh quê và đương nhiên cũng ở cái tình của người viết với quê hương.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TƯƠNG TƯ – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Share

  • Tweet
  • Email

Related

Bình luận
0

Bình luận