Phân tích tác phẩm Tôi Yêu Em – Ngữ văn 11

Ngày 14/12 năm 2018 | Tin mới | Tag:

TÔI YÊU EM I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799 – 1837) là nhà thơ Nga vĩ đại, người được mệnh danh là “Mặt trời của thi ca Nga”. Ông để lại một khối lượng đồ sộ hơn 800 bài thơ trữ...

Rate this post

TÔI YÊU EM

I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799 – 1837) là nhà thơ Nga vĩ đại, người được mệnh danh là “Mặt trời của thi ca Nga”. Ông để lại một khối lượng đồ sộ hơn 800 bài thơ trữ tình, nhiều tiểu thuyết bằng thơ và các trường ca, kịch và nhiều truyện ngắn xuất sắc. Sớm nổi tiếng về tài năng thơ văn, lại kết hợp được tình yêu nhân dân, yêu đất nước, sớm tiếp nhận khát vọng tự do, Pu-skin đã tạo ra cho mình một vị trí quan trọng không thể thay thế trên văn đàn nước Nga thế kỉ XIX. Ông trở thành ngưòi mở đường cho một nền văn học mói của nước Nga, nền văn học hướng tới nhân dân, đất nước, tạo ra “sự khởi đầu của mọi khởi đầu” mà theo như M. Go-rơ-ki thì Pu-skin “đã đặt những nền móng không gì lay chuyển nổi cho tất cả những gì sau này sẽ kế tục mình trong nền nghệ thuật Nga”. Ảnh hưởng của ông khá sâu rộng không chỉ đối với các nhà văn cùng thời như Gô-gôn, Tôn-xtôi mà còn đến cả Go-rơ-ki và Mai-a-cốp-xki,… sau này nữa.

Sớm giác ngộ những lí tưởng tiến bộ, cho dù bị đày ải, nhưng Pu-skin vẫn hướng theo con đường đã chọn, luôn tìm mọi cách “đem lời nói đốt tim muôn người”, cổ vũ cho mọi người đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ để giành lấy “bình minh rực rỡ của tự do”, cho dù đôi lúc nhà thơ cảm nhận mình như “người gieo giống tự do trên đồng vắng”. Ông tham gia tích cực vào phong trào tháng Chạp ngay sau khi vừa mãn hạn đi đày và tạo ra một thời kì sáng tác sôi nổi với những bài thơ nổi tiếng như Cây An-xa, Đài kỉ niệm… với tiểu thuyết Người con gái viên đại uý và nhiều truyện ngắn nổi tiếng. Ông trở thành “người ca sĩ của phong-trào tháng Chạp”.

Tình yêu là một chủ đề lớn của sáng tạo thơ ca Pu-skin. Bài thơ bắt nguồn từ một mối tình có thật giữa nhà thơ với A. A. Ô-lê-nhi-na (con gái vị Chủ tịch Viện Hàn lâm nghệ thuật Nga), song lời cầu hôn của nhà thơ đã bị chối từ. Câu chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1829. Tôi yêu em ra đời vào thời điểm đó. Bài thơ vốn không tên, nhan đề Tôi yêu em là do người dịch đặt.

2.Tri thức văn hoá

Pu-skin sống trọn trong nửa đầu thế kỉ XIX, thời kì nước Nga chuyển mình để thoát ra khỏi chế độ nông nô. Đặc biệt, trong quãng thời gian đó, Pu-skin trực tiếp cảm nhận nhiều sự kiện lịch sử lớn của nước Nga. Trước hết, cuộc chiến tranh của nhân dân Nga chống lại sự xâm lược của quân đội Na-pô-lê-ông (1812), đưa lại cho ông tinh thần dân tộc và tình yêu đất nước Nga. Tiếp đó, cuộc khởi nghĩa tháng Chạp (1825) của những trí thức tiến bộ Nga nhằm lật đổ chế độ Sa hoàng, đưa lại cho ông khát vọng về tự do và tinh thần bất khuất trước cường quyền và bạo tàn. Tinh thần yêu nước của nhân dân Nga cũng như tấm gương hi sinh quả cảm của những ngưòi con ưu tú mãi mãi là động lực kích thích mọi sáng tạo tinh thần của Pu-skin. Ông trở thành người vừa kế thừa truyền thống dân tộc vừa là người phục hưng và mở đường cho một nền văn học mới của đất nước Nga.

3.Tri thức về thể loại

Tôi yêu em là một trong những bài thơ tình nổi tiếng của Pu-skin mà nhà phê bình Bi-ê-lin-xki đã đánh giá là bài thơ “tôn vinh phẩm giá con người với tư cách là CON NGƯỜI”. Trong bài thơ này, Pu-skin không dụng công xây dựng các hình ảnh, cũng rất ít dùng các mĩ từ pháp (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá,…) mà chỉ đơn giản là lời giãi bày tâm sự chân thành nhất, lời chia tay buồn song không bi luỵ, cũng chẳng hề oán trách. Pu-skin, trong thơ của mình, thường chú ý quan tâm nhiều tới việc xác lập các cấu trúc quan hệ hơn là đi tìm kiếm các thủ pháp để trau lời chuốt chữ. Ta không thấy ở thơ ông sự rực rỡ hào nhoáng của những câu chữ hay hình ảnh khác thường, song ta gặp ở đây vẻ đẹp của tâm hồn, của tư tưởng đang trong xu thế hướng thiện, đang vươn về cái cao cả, thiêng liêng, đang cố gắng hoàn thiện mình để trở thành con người viết hoa như nhà thơ thường tâm niệm.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Đặc điểm về nội dung

-Đây là một bản dịch hay và tương đối sát nghĩa song vẫn chưa lột hết được cái hay của nguyên bản. Trước hết, là thời của động từ, trong nguyên bản là “Tôi đã yêu em” chỉ một hành động đã thuộc về quá khứ, chỉ còn là kỉ niệm, một hành động được nhớ lại, hồi tưởng lại. Từ em ở đây là cách nói trang trọng tương ứng với đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số nhiều trong nguyên bản. Hình ảnh “ngọn lửa tình” không có trong nguyên bản mà do dịch giả thêm vào. Có thể hình ảnh này được gợi ra từ động từ tắt trong nguyên bản.

-Trong bài thơ này, nhà thơ và nhân vật trữ tình đồng nhất với nhau và xuất hiện ở ngôi thứ nhất qua cách xưng hô tôi. Cần lưu ý điều này để phân tính cảm xúc của nhân vật trữ tình. Nhân vật em ở đây không xuất hiện mà chỉ là đối tượng để chủ thể trữ tình hướng tới để giãi bày, bộc bạch và trao gửi tâm tình.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

a.Kết cấu bài thơ

Bài thơ chỉ có tám câu, được chia tự nhiên thành hai đoạn và được phân định bằng dấu chấm câu ; cho nên có thể coi bài thơ dựa trên hai câu lớn, mỗi câu có bốn dòng thơ, tạo thành kết cấu hai phần của bài thơ. Tuy số lượng câu thơ ít nhưng lại chồng chất nhiều lớp nghĩa, tạo ra một hình thức trùng điệp để nhấn mạnh cảm xúc tâm tư. Do đó, cần thâm nhập văn bản thật tốt.

-Hoàn cảnh đặc biệt xuất hiện ở đây là người đang yêu mãnh liệt phải tự nguyện từ bỏ, tự nguyện cắt đứt hay quên đi người tình mà mình theo đuổi. Đây là tiếng lòng của giã biệt, chia tay mãi mãi. Trong hoàn cảnh đó, có thể xuất hiện nhiều hình thức phản ứng khác nhau. Pu-skin chọn hình thức giãi bày tâm trạng, chủ động nhận về mình tính chất đơn phương một chiều để rút lui, để bảo vệ tình yêu mà mình đã theo đuổi. Mở đầu hai khổ thơ (câu 1 và câu 5) đều là cụm từ “Tôi yêu em” (chứ không phải “chúng ta đã yêu nhau”, “mối tình của chúng ta”) để đi đến câu 7, cụm từ này lại xuất hiện lần nữa tạo nhịp kết thúc cho câu chuyện tình yêu. Cụm từ “Tôi yêu em” cho thấy tính chất một chiều, đơn phương trong tình yêu. Nói cách khác là Pu-skin không gặp được sự đồng cảm đồng tình, không có được sự cộng hưởng đồng điệu từ phía ngưòi con gái.

-Khi đã tự nhận là tình yêu đơn phương thì vấn đề đặt ra là nhà thơ có yêu thật lòng không ? Thông thường trong cuộc sống có không ít người cũng rơi vào tình trạng, vào hoàn cảnh yêu thương một chiều như vậy. Điểm khác biệt giữa mối tình đơn phương mà nhà thơ dành cho người con gái ấy với những người khác là ở khía cạnh chân thành thông qua sự đam mê say đắm.

-Hai khổ thơ cho thấy hai mức độ yêu của tác giả. Hai câu đầu :

Tôi yêu em : đến nay chừng có thể

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai ;

Dịch nghĩa :

Tôi đã yêu em, tình yêu vẫn, có lẽ

Chưa tắt hẳn trong tâm hồn tôi ;

Hai câu cuối :

Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

Dịch nghĩa :

Tôi đã yêu em chân thành như thế, dịu dàng như thế,

Cầu Trời cho em được người khác (cũng) yêu

(chân thành, dịu dàng) như thế.

Mức độ yêu đó tạo ra sự đối vị, tạo nhịp nhấn để khẳng định sự chân thành, tha thiết của nhà thơ. Để từ đó đi tới các giải pháp mà nhà thơ tự chọn, tự quyết định cho mình.

-Tình yêu của nhà thơ tuy đơn phương nhưng không phải là thứ tình cảm tầm thường mà luôn có xu hướng vươn về cái cao cả. Ở đây ta gặp kiểu tình yêu vị tha, đơn phương, sôi nổi, chân thành. Trước hết đây là tình yêu nam nữ bình thường như các mối tình khác. Người con trai rung động trước vẻ đẹp của người con gái và đem lòng yêu, quyết tâm theo đuổi. Ta có thể suy luận ý nghĩa của câu thơ “Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai” để thấy rằng tình yêu trong lòng tác giả vẫn còn vương vấn. Tình yêu của nhà thơ với người con gái cũng diễn ra giống như những người bình thường khác. Câu thơ “Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen” hay câu thơ thứ 5 : “Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng” để thấy được sự bất ổn xuất hiện trong mối tình giữa tác giả và người con gái. Sự bất ổn này đặt nhà thơ vào một sự lựa chọn bắt buộc : đó là chấm dứt mối tình.

-Cách giải quyết vấn đề của tác giả mang tính chất vị tha. Trước hết là để cho người con gái không phải “bận lòng thêm nữa”, lại càng không muốn để cho “hồn em phải gợn bóng u hoài” (nguyên tác : “Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ điều gì”). Nhà thơ không những tự nhận lỗi về mình, không hề oán giận người yêu mà còn khẳng định với người con gái ấy về tình yêu “chân thành, đằm thắm”, là đã yêu hết lòng.

-Đỉnh cao của tình yêu vị tha ấy là lời cầu chúc kết thúc bài thơ : “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em” (nguyên tác : “Cầu Trời cho em được người khác (cũng) yêu (chân thành, dịu dàng) như thế”). Ý nghĩa của câu thơ này là sự cao thượng của tình yêu. Có thể so sánh vói câu hát quan họ trong bài Giã bạn :

Người về em dặn câu rằng

Đâu hơn thì lấy, đâu bằng đợi em.

Cũng có thể suy luận là, ở câu thơ này nhà thơ dường như muốn thách thức ngưòi con gái tìm được một ngưòi tình chân thành, đắm thắm như mình. Ở đây nhà thơ tự so sánh ngầm tình yêu của mình với “người khác” mà “người khác” này có thể đã được người con gái chấp nhận. Sự so sánh đó cho thấy niềm tự hào được yêu được sống hết mình vì tình yêu đã lựa chọn, tất nhiên là tình yêu vị tha, không vụ lợi.

b.Ngôn ngữ nghệ thuật

Tình yêu nam nữ là loại tình cảm phổ quát của nhân loại, gắn liền với thái độ ứng xử thẩm mĩ có văn hoá mà ta còn gọi là văn hoá yêu đương hay văn hoá ứng xử trong tình yêu, thể hiện trước hết trong quan hệ đối xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

-Tôn trọng qua cách xưng hô : Tôi / em, lưu ý nội hàm của đại từ nhân xưng tôi (tính chất riêng lẻ, cô đơn, hàm chứa nỗi đau ngấm ngầm).

-Tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu : không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải “bận lòng”, phải “u hoài”.

-Cho dù trong quá trình theo đuổi, nhà thơ “Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen”, song nhà thơ đã không để ghen tuông lấn át lí trí. Trong tình yêu, thường có hiện tượng “Yêu nhau cái gì cũng cho – Ghét nhau một mảnh quạt mo cũng đòi”, dẫn tới hiện tượng nói xấu, gièm pha, hay thoá mạ lẫn nhau. Nhà thơ đã vượt qua thói đời tầm thường ấy bằng mong muốn cũng rất chân thành, song có chút ít thách đố là “Cầu em được ngưòi tình như tôi đã yêu em”. Ở đây, nhà thơ vẫn khẳng định tình cảm chân thành, đằm thắm của mình, nhưng cũng tự nguyện chấp nhận chia tay để cho người con gái được thanh thản bước đi trên con đường mà cô đã lựa chọn. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện : tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Và khi hai con tim đã không cùng có chung nhịp đập thì tình yêu cũng không còn và việc chia tay, giã từ là tất yếu. Song, chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đời. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu.

-Cách bộc bạch chân thành, không giấu giếm, luôn luôn đề cao vẻ đẹp của tình yêu, của tình cảm thiêng liêng dành cho người con gái, cho thấy sự độc đáo của cách thức thổ lộ tâm trạng tình cảm riêng tư của Pu-skin và cách thức trữ tình của nhà thơ.

Tôi yêu em khá tiêu biểu cho phong cách trữ tình “điệu nói” của Pu-kin. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, thể hiện lời giãi bày tình yêu với giọng điệu thay đổi một cách sinh động, chân thực : từ phân vân, ngập ngừng tới kiên quyết, dứt khoát rồi lại day dứt, dằn vặt để cuối cùng thiết tha, điềm tĩnh. Qua đó, ta thấy được những phức cảm tinh tế của nhân vật trữ tình (trong quan hệ nhiều chiều giữa lí trí và tình cảm, vị kỉ và vị tha,…). Chính vẻ đẹp tâm hồn đó làm nên sức hấp dẫn của thơ tình Pu-skin

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHIỀU XUÂN – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Share

  • Tweet
  • Email

Related

Có thể bạn quan tâm