Phân tích tác phẩm Lưu Biệt Khi Xuất Dương – Ngữ Văn 11

Ngày 12/12 năm 2018 | Tin mới | Tag:

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG (Xuất dương lưu biệt) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời –Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam. Quê ông ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn,...

Rate this post

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG

(Xuất dương lưu biệt)

I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam. Quê ông ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ ông đã có tiếng là thần đồng. Được nuôi dưỡng trong không khí cả nước sục sôi chống Pháp xâm lược, Phan Bội Châu sớm có lòng yêu nước nhiệt thành. Ông là một trong số ít những nhà nho Việt Nam đầu tiên nuôi ý tưởng tìm hướng đi mới cho sự nghiệp khôi phục giang sơn: tham gia vận động thành lập Duy tân hội (1904), khởi xướng phong trào Đông du và xuất dương sang Nhật Bản (1905). Hơn hai mươi năm ông bôn ba đó đây mưu việc lớn nhưng tiếc thay lại không thành. Năm 1925, ông bị bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc). Thực dân Pháp định đưa ông về nước thủ tiêu bí mật nhưng nhân dân cả nước ta đã đấu tranh buộc nhà cầm quyền Pháp phải đưa ông ra xử công khai ở Hà Nội. Ông được trắng án nhưng vẫn bị giam lỏng ở Huế cho đến ngày tạ thế.

-Vào đầu năm 1905, ngọn lửa của phong trào cần vương đã tắt báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước do các sĩ phu phong kiến Việt Nam lãnh đạo. . Như trên đã nói, sau khi Phan Bội Châu tham gia thành lập Duy tân hội, ông nhận nhiệm vụ sang Trung Quốc, Nhật Bản đặt cơ sở đào tạo cốt cán cho cách mạng trong nước, cầu viện Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp. Ông là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, vượt qua giáo lí Nho giáo lỗi thời để đón nhận luồng tư tưởng tiên phong thời đó, kì vọng tìm ra một con đường mới mẻ nhằm khôi phục giang sơn, lúc ấy đã nằm trong tay Pháp. Trước lúc lên đường Đông du, Phan Bội Châu đã làm bài thơ này để chia tay với những người đồng chí của mình.

2.Tri thức về thể loại

-Phan Bội Châu là một nhà yêu nước cách mạng tiêu biểu cho phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc trong 25 năm đầu thế kỉ XX. Tuy có văn tài lỗi lạc nhưng không bao giờ ông xem văn chương là mục đích của đòi mình. Ông chỉ muốn dùng văn chương để xốc dậy tinh thần của nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trong sự nghiệp cứu nước. Với mục đích đó, thơ văn của Phan Bội Châu chứa đựng xúc cảm mãnh liệt, tràn đầy nhiệt huyết, có khả năng lôi cuốn người đọc hướng theo ngọn lửa lí tưởng chính trị – xã hội mà ông và những người cùng chí hướng đang hào hứng nhóm lên. Có thể nói, Lưu biệt khi xuất dương là sáng tác khởi đầu một giai đoạn hoạt động cách mạng sôi nổi, thành công của Phan Bội Châu. Bài thơ này cũng như toàn bộ thơ văn của Phan Bội Châu là thành tựu rực rỡ nhất của dòng thơ văn tuyên truyền, vận động cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX. Tuy chưa đứt đoạn hẳn với thi pháp văn học trung đại, nhưng dòng văn thơ tuyên truyền, vận động cách mạng đầu thế kỉ XX có đóng góp lớn cho văn hoá, lịch sử, văn học Việt Nam.

-Lưu biệt khi xuất dương được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, theo bút pháp khoa trương của thơ tỏ chí thời trung đại nhưng nội dung nhằm mục đích cổ động, tuyên truyền cách mạng. Trong bài, nhiều câu, chữ vẫn được sử dụng trong thơ trung đại nhưng lại mang tư tưởng cách mạng, nhiệt huyết hành động, niềm lạc quan, nỗi trăn trở của nhân vật trữ tình – tác giả – khiến chúng mang đậm dấu ấn cá nhân người viết và có sức lay động thấm thía. Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ là hình tượng một người anh hùng hào kiệt tràn đầy ý thức về “cái tôi” của mình – không phải là “cái tôi” trung với vua mà là “cái tôi” công dân luôn thao thức về sự tồn vong của giống nòi, dân tộc. “Cái tôi” ấy cất lên tiếng nói lưu biệt đầy chí khí, khát vọng cao đẹp của kẻ làm trai giữa cuộc đời, giữa càn khôn, vũ trụ và ý thức rất rõ về bổn phận, về sự sống – cái chết, về được – mất, thành – bại của chính mình.

Cần biết mục đích sáng tác tuyên truyền, vận động cách mạng và đặc điểm của thể loại để hiểu đúng tác phẩm của nhà chí sĩ.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Đặc điểm về nội dung

-Hai câu đề:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.

(Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ,

Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao !)

Hai câu đề nêu quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ. Câu thứ nhất được dịch khá rõ nghĩa, duy từ lạ chưa thể hiện hết ý tứ của hai từ hi kì (hiếm, lạ, khác thường) trong nguyên tác. Hai từ hi kì được hiểu là những công việc lớn lao, trọng đại (mà kẻ làm trai phải gánh vác). Câu thứ hai có thể hiểu là lời nhân vật trữ tình tự nhắc nhở mình, khích động bản thân : Lẽ nào mình cứ để trời đất xoay vần đến đâu thì biết đến đấy, còn mình cứ như đứng ngoài, vô can ?

Trước Phan Bội Châu, nhiều nhà thơ trung đại đã đề cập đến chí làm trai theo tinh thần Nho giáo. Chẳng hạn :

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tại nghe chuyện Vũ hầu.

(Phạm Ngũ Lão, Thuật hoài)

Đã mang tiếng ở trọng trời đất,

Phải có danh gi vói núi sông.

(Nguyễn Công Trứ, Đi thi tự vịnh)

Về cơ bản, quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu vẫn nằm trong vòng ý thức hệ Nho giáo. Dù vậy, có thể nhận thấy nét mới trong cách đặt vấn đề của nhà chí sĩ. Điều đó có được từ sự nhạy cảm trước đòi hỏi bức xúc của đất nước : khôi phục lại chủ quyền dân tộc đã mất vào tay quân xâm lược.

Hai câu thơ đầu bộc lộ một lẽ sống đẹp của chủ thể trữ tình : kẻ làm trai sống là phải dám làm những việc phi thường, hiển hách có tính chất kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn. Chí khí đó là sự tiếp nối lí tưởng nhân sinh cao cả của các nhà nho trung đại nhưng có gì đó táo bạo, quyết liệt hơn. Nhân vật trữ tình ở đây dám đối mặt với đất trời (càn khôn), với cả vũ trụ để khẳng định mình, tự vượt lên mộng công danh cá nhân nhỏ hẹp để vươn tới nhân quần, xã hội rộng lớn hơn. Lẽ sống mới tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tư thế mới, tầm vóc mới, sánh ngang tầm vũ trụ. Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn được những lời như vậy.

-Hai câu thực triển khai cụ thể ý tưởng về chí làm trai được đặt ra ở hai câu đề, nói về ý thức trách nhiệm cá nhân của trang nam nhi trước thòi cuộc :

Ư bách niên trung tu hữu ngã,

Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ.

(Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ,

Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư ?)

Câu 3 không đơn giản chỉ là nhận thức về sự hiện hữu của “cái tôi” mà còn hàm chứa một tâm niệm : Ta hiện diện trong thời gian này phải làm được một việc gì đó có ích cho cuộc đời. Câu 4, cụ Tôn Quang Phiệt dịch nghĩa là : Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư ? Có tài liệu dịch câu này như sau : Còn như chuyện ngàn năm sau thì có người sắp tới; câu này giúp ta suy ra ý là : Ngàn năm sau lẽ nào chẳng có người nối tiếp công việc của người trước. Các bản dịch nghĩa đều làm rõ “cái tôi” đầy trách nhiệm của nhân vật trữ tình trước thời cuộc : thấy việc phải làm, không ỷ lại cho ai được. Hơn nữa, “cái tôi” ấy thấy rõ lịch sử là một dòng chảy liên tục, cần có sự chung tay góp sức của nhiều thế hệ nối tiếp. Đó là “cái tôi” công dân – “cái tôi” hành động, tham gia vào sự chuyển dời của càn khôn, vũ trụ.

Như ở mục I đã nêu, bước sang thế kỉ XX, sau thất bại của phong trào cần vương, một bầu không khí u ám bao trùm toàn đất nước ; nỗi thất vọng, bi quan đè nặng tâm can những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí an phận, buông xuôi có nguy cơ ngự trị trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, lời thơ tâm huyết này của Phan Bội Châu như xói vào lòng người, kích thích ý thức trách nhiệm của mỗi người với đất nước, giục giã con ngưòi hành động cứu nước. Đấy chính là thơ của một nhà cách mạng.

-Hai câu luận tiếp tục triển khai vấn đề, gắn quan niệm về chí làm trai vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước nhà những năm đầu thế kỉ XX – thời điểm Phan Bội Châu “xuất dương lưu biệt” :

Giang son tử hĩ sinh đồ nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!

(Non sông đã chết, sống chỉ nhục,

Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!)

Câu 5 nói đến thực trạng đất nước ta vào buổi Phan Bội châu xuất dương (non sông đã chết). Với nhiệt huyết của một chí sĩ yêu nước nồng nàn và cá tính mạnh mẽ của một con người hành động, ông đã đưa vào thơ những từ ngữ gây ấn tượng mạnh như tử hĩ (chết rồi), đồ nhuế (nhục nhã, nhơ nhuốc), si (ngu),… Đằng sau những từ ngữ mạnh mẽ, đầy ấn tượng đó là cốt cách của một con người không cam chịu sống cuộc đời nô lệ, đắng cay (sống chỉ nhục). Thái độ quyết liệt ấy nằm trong nguồn mạch tư tưởng yêu nước, chống xâm lược từ văn thơ Nguyễn Đình Chiểu nửa sau thế kỉ XIX. Nhưng cảm hứng yêu nước trong 120 thơ văn Đồ Chiểu vẫn nặng về chữ hiếu, trung; còn trong Xuất dương lưu biệt, nội dung yêu nước mang sắc thái mới của tư tưởng thời đại. Mang trong tâm nỗi đau xót của một người dân mất nước, lại chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, tư tưởng cải cách xã hội theo mô hình Âu – Mĩ,… (qua sách báo), dẫu là ngưòi từng gắn bó với cửa Khổng sân Trình, Phan Bội Châu đã nhận ra sự vô ích của nội dung học vấn, của kiểu học thời phong kiến trước đòi hỏi mới của đất nước, của thời đại: “Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!”. Ông dè bỉu, chê bai thái độ, lối sống “nhắm mắt làm ngơ” trước thòi cuộc, phê phán những ai vẫn còn tụng niệm giáo lí “thánh hiền” trong lúc đất nước đã rơi vào tay giặc, khi linh hồn của Nho giáo đã bị tiêu vong.

Hiển nhiên, Phan Bội Châu rất hiểu vai trò to lớn, ý nghĩa của đạo Nho trong quá trình lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, cụ thể, trong việc đào tạo những kiểu người thích ứng trong một thời kì lịch sử cụ thể nhất định. Điều ông muốn phát biểu qua bài thơ này, đặc biệt qua hai câu luận, là vấn đề thái độ trước hiện trạng đất nước. Mục đích ông muốn tuyên truyền, vận động là hãy hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Với Phan Bội Châu, vào lúc “lưu biệt xuất dương”, điều đó là thước đo giá trị, là quan điểm để nhìn nhận, đánh giá tất cả các vấn đề khác. Lời thơ dịch sống thêm nhục, học cũng hoài dù là vậy cũng chưa chuyển tải hết khí lực dồi dào của các từ đồ nhuế, sỉ trong nguyên tác.

-Hai câu kết thể hiện khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường của nhân vật trữ tình :

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

(Mong đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông,

Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.)

Nếu đem đối chiếu với nguyên tác và bản dịch nghĩa, thì thấy, bản dịch thơ đã quá “thoát” ý trong nguyên tác. Mong muốn của tác giả thể hiện trong hai câu kết là đuổi theo con gió lớn qua biển Đông, cũng có nghĩa là tìm ra con đường đi mới cho đất nước, tìm ra một trường hoạt động khác để cho trang nam nhi được phỉ chí vẫy vùng trong bốn cõi. Câu thơ dịch đã chuyển một nguyện ước, một khát vọng, một liên tưởng bay bổng thành sự miêu tả cụ thể, do vậy, chưa truyền đạt được hào khí lên đường và trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ: bay lên làm quẫy sóng đại dương hay là bay lên cùng những đợt sóng trào sôi vừa hiện trong tâm tưởng lúc chia tay – nhất tề phi. Tâm thế và tư thế của nhân vật trữ tình lúc này là muốn lao ngay vào trường hoạt động cách mạng ở bên kia đại dương. Khát vọng cháy bỏng đó được hàm chứa trong hình ảnh thật lãng mạn, thật hào hùng. Hình tượng thơ làm hiển hiện trước mắt người đọc hàng ngàn đợt sóng đại dương sôi réo, trắng xoá đang bay lên. Đó là một hình tượng vừa kì vĩ, vừa thơ mộng thể hiện được quyết tâm phơi phới, lòng tự tin cùng sự thăng hoa của một thi sĩ – nhà cách mạng dám đưong đầu vói mọi thử thách để thực hiện lí tưởng cứu dân cứu nước của mình.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

-Bài thơ được tổ chức theo kết cấu của một bài thơ Đường luật, thể thất ngôn bát cú, đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật trữ tình – tác giả – với sự vận động của cảm xúc theo quá trình diễn biến như sau :

+ Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ (hai câu đề).

+ Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc (hai câu thực).

+ Thái độ quyết liệt trước thực trạng nước mất nhà tan và những tín điều xưa cũ của Nho giáo (hai câu luận).

+ Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường (hai câu kết).

-Bài thơ được viết theo bút pháp ước lệ, phóng đại của thơ tỏ chí thời trung đại rất có lợi cho mục đích tuyên truyền, vận động cách mạng. Tư tưởng hành động để cứu dân cứu nước, nhiệt huyết trào sôi của tác giả đã đem lại cho câu, chữ, hình ảnh vốn đã quen được sử dụng trong thơ cổ điển một nội dung mới, hiện đại – nội dung cách mạng, khiến cho bài thơ có sức lay động mạnh mẽ, thấm thía. Chính vì vậy, bài thơ thể hiện tình cảm lưu biệt của Phan Bội Châu lúc xuất dương nhưng cũng là lời thúc giục hành động, mời gọi lên đường của ông. Bài thơ tương xứng với một nhân cách đáng ngưỡng mộ, với tầm vóc vĩ đại của một “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con ngưòi trong vòng nô lệ tôn sùng”.

-Tuy còn có một số từ ngữ trong nguyên tác chưa được người dịch lột tả hết ý tứ nhưng dẫu sao, đây cũng là một bản dịch thơ rất hay, giúp người đọc hiểu gần như trọn vẹn ý nghĩa của tác phẩm.

Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, trong Truyện và kí, NXB Văn học, Hà Nội, 1974.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN – NGỮ VĂN 11

Share

  • Click to share on Twitter (Opens in new window)
  • Click to share on Facebook (Opens in new window)
  • Click to share on Google+ (Opens in new window)
  • Share on Skype (Opens in new window)

Related

Có thể bạn quan tâm