Phân tích tác phẩm Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11

Ngày 13/07 năm 2018 | Tin mới | Tag:

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Trích Số Đỏ) I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) xuất thân trong một gia đình “nghèo gia truyền” (chữ dùng của Ngô Tất Tố), “nghèo kế thế” (chữ dùng của Lan Khai). Quê gốc...

Rate this post

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

(Trích Số Đỏ)

I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) xuất thân trong một gia đình “nghèo gia truyền” (chữ dùng của Ngô Tất Tố), “nghèo kế thế” (chữ dùng của Lan Khai). Quê gốc ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông cụ thân sinh của Vũ Trọng Phụng nhập cư vào Hà Nội khoảng đầu thế kỉ XX, làm thợ điện cho một xưởng chế tạo toa xe và sớm qua đời vì bệnh lao khi nhà văn mới 7 tháng tuổi.

Vũ Trọng Phụng may mắn có được một người mẹ hiền hậu, tần tảo lo cho ăn học nhưng ông cũng chỉ qua bậc Tiểu học rồi phải đi làm để kiếm sống. Vào đời đúng vào thời điểm xã hội Việt Nam đang bị cuốn vào cơn khủng hoảng kinh tế, Vũ Trọng Phụng liên tục bị mất việc, ông đành phải chọn nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp làm kế mưu sinh. Cuộc sống khốn quẫn, công việc cực nhọc, Vũ Trọng Phụng mắc bệnh lao mà không có điều kiện chạy chữa. Ông qua đời năm 1939 tại Hà Nội khi còn một tuần nữa mới đầy 27 tuổi.

Suốt tuổi thơ ấu và trưởng thành, Vũ Trọng Phụng gắn bó vói đòi sống đô thị nhiều lọc lừa và cạm bẫy nhưng ông là một con người bình dị, khuôn phép, mực thước, trọng nghĩa và thủ tín. Ông có ý thức tự học, rất chăm đọc và có một năng suất sáng tác phi thường. Trong khoảng gần chục năm cầm bút, Vũ Trọng Phụng đã cho ra đời khoảng tám cuốn tiểu thuyết (Giông tố, số đỏ, Vỡ đê, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc,…) đưa ông lên vị trí nhà tiểu thuyết bậc thầy, bảy vở kịch (Không một tiếng vang, Tết cụ cố,…), năm phóng sự dài (Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô,…) khiến ông được tấn phong là ông vua phóng sự đất Bắc. Ngoài ra, Vũ Trọng Phụng còn là tác giả của dăm chục truyện ngắn, một số vở kịch và tiểu luận khá dài cùng hàng trăm bài phê bình, tiểu luận, bài báo và xã luận.

Vũ Trọng Phụng là nhà văn sớm thể hiện nét sắc sảo của một cây bút mang tri giác hiện đại nhưng đồng thời về sự nghiệp sáng tác cũng như thế giới quan cũng bộc lộ những nét phức tạp, đôi khi mâu thuẫn, gây ngộ nhận và tranh cãi qua một thời gian khá dài trong nhiều thế hệ người đọc. Từ năm 1986 cho đến nay, địa vị và uy tín văn học của Vũ Trọng Phụng được đề cao trở lại, ông được xếp vào hàng ngũ những cây bút xuất sắc nhất của trào lưu hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.

Về phong cách nghệ thuật, Vũ Trọng Phụng là cây bút chuyên chú phát hiện và phanh phui cái xấu, cái ác trong xã hội tư sản thành thị vớii cái nhìn tinh tường cùng lối thể hiện trực diện đến trần trụi và lạnh lùng gần với phong cách của một bác sĩ ngoại khoa ngành giải phẫu. Do chuyên chú xây dựng bức tranh xã hội nên sở trường của ông là xây dựng kiểu nhân vật đám đông, ông sử dụng tài tình thủ pháp đối lập và cường điệu để làm nổi bật bản chất hiện thực.

Số đỏ được coi là kiệt tác của Vũ Trọng Phụng và cũng là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam trước 1945, xuất bản dưới dạng đăng nhiều kì trên Hà Nội báo, bắt đầu từ số 40, từ ngày 7 – 10 – 1936, in thành sách vào năm 1938.

2.Tri thức văn hoá

Số đỏ ra đời như một sự thể hiện thái độ của Vũ Trọng Phụng đối với các phong trào rầm rộ nhưng nông nổi và hời hợt trong xã hội đô thị Việt Nam những năm 30 của thế kỉ trước. Đó là những làn sóng mới với những cái tên rất kêu như Âu hoá, thể thao, bình dân, nữ quyền nhưng thực chất chỉ là những trò lừa mị, quảng cáo để che đậy lối sống chạy theo vật chất, dục vọng tầm thường và nhiều thú vui phù phiếm của tầng lớp thượng lưu, giàu có mới nổi.

Lối sống mới này có nguy cơ tạo nên những loạn cương về mặt đạo đức xã hội cho nên Vũ Trọng Phụng cần phải dùng tiếng cười để lật tẩy, tạo điều kiện cho công chúng nhận ra bản chất Âu hoá rởm, thể thao rởm, bình dân rởm, nữ quyền rởm mà thực dân Pháp và chế độ phong kiến lúc bấy giờ muốn tạo ra.

3.Tri thức về thể loại

Đoạn trích thuộc chương XV trong tổng số 20 chương của tác phẩm. Mười bốn chương đầu, các nhân vật lần lượt xuất hiện với tính cách hoàn chỉnh, ở chương XV, mượn bối cảnh đám tang, tác giả để cho xuất hiện kiểu nhân vật đám đông. Mỗi nhân vật dù chỉ được miêu tả chấm phá vài nét nhưng bản chất của chúng lại bộc lộ khá nổi bật.

Chủ trương của tác giả trong chương XV là lật tẩy và vạch trần bản chất nhố nhăng, giả dối, lố bịch, vô đạo đức của bọn người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh. Thực chất chúng chỉ là những quái thai, cặn bã của xã hội thực dân tư sản thành thị nước ta trước Cách mạng.

Nét đặc sắc về nghệ thuật của tiểu thuyết Số đỏ và cũng là của đoạn trích là ở chỗ, Vũ Trọng Phụng đã tạo được một tình huống nghệ thuật độc đáo và đã thể hiện tài năng của một nhà văn hiện thực sắc sảo qua nghệ thuật trào phúng bậc thầy đặc biệt là ở tài nghệ siêu việt trong việc luôn tạo ra sự bùng nổ mâu thuẫn dây chuyền nhằm duy trì tiếng cười thường trực với mọi cung bậc gây nên một trận cười dài càng về sau càng hấp dẫn (trong khĩ tiếng cười trong dân gian thường bật ra nhanh và kết thúc gấp).

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Đặc điểm về nội dung

a.Một số thuật ngữ, khái niệm cần lưu ý

-Tình huống nghệ thuật : Là sự kiện đặc biệt, bất ngờ, thường xảy ra ở phần đầu các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi, có giá trị như một chất xúc tác cực mạnh, làm lộ ra phẩm chất sâu kín của các nhân vật.

-Nghệ thuật trào phúng : Là các hình thức và thủ pháp gây tiếng cưòi. Các hình thức và thủ pháp mà một cây bút trào phúng thường sử dụng là : tạo sự đối lập, thúc đẩy kịch tính, kết thúc bất ngờ… Vũ Trọng Phụng cũng sử dụng thành công các hình thức và thủ pháp đó nhưng ông sở trường ở bút pháp cường điệu cao độ, phóng đại tột cùng đặc biệt là thủ pháp miêu tả sự thống nhất mà đối lập một cách tinh tường và sắc sảo giữa nội tâm và ngoại hiện nhằm phoi bày và lật tẩy bản chất của đối tượng trào phúng.

b.Tình huống nghệ thuật độc đáo

Đoạn trích đã tạo được một tình huống trào phúng thật độc đáo. Đó là cái chết của cụ cố tổ và thái độ ứng xử của đám con cháu. Cái chết của cụ cố tổ đã thực sự đem lại niềm vui lớn cho cái đại gia đình bất hiếu ấy. Bởi vì, cái chết ấy tựa như một hỉ tín vừa cáo chung một khoảng thòi gian dài mong mỏi và chờ đợi vừa mở ra một kỉ nguyên mới- kỉ nguyên thực hành tờ di chúc của người đã khuất, tức là kỉ nguyên chia của và hưởng thụ. Một tình huống nghệ thuật độc đáo, tự nó mang ý nghĩa của một sự cố đặc biệt, đánh thức những phẩm chất sâu kín của tất cả các nhân vật mà bình thường chúng muốn che giấu. Theo nghĩa đó, cái chết của cụ tổ có giá trị của một sự kiện quan trọng lật tẩy bản chất thực dụng của tất cả các thành viên trong gia đình ấy. Nét sắc sảo của ngòi bút Vũ Trọng Phụng là ở chỗ ông miêu tả sự kiện trên tựa như một cú hích làm tất cả quay 180 độ. Ngay sau cái chết của cụ cố tổ, mọi thành viên trong cái đại gia đình thượng lưu, giàu có ấy lập tức vất bỏ các vai diễn về lòng hiếu thảo giả vờ, thái độ tận tuỵ giả vờ, tâm trạng lo lắng giả vờ để trở về với con người thật của chúng : bận rộn tổ chức đám tang trong niềm háo hức, hoan hỉ với số của nả, tiền bạc mà người chết để lại.

Thông qua thái độ của các nhân vật trước cái chết của cụ cố tổ, tác giả thể hiện sự suy đồi về nhân cách của con người. Nhưng sử dụng tình huống đám tang là nét khác người và cũng là sở trường của Vũ Trọng Phụng. Đây là tình huống điển hình vì thái độ của con người trước cái chết của đồng loại và người thân thường là thước đo chính xác và chân thực phẩm giá con ngưòi. Ban-dắc bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực cũng soi tính cách của các nhân vật thượng lưu và bình dân qua cái chết của lão Gô-ri-ô (đoạn trích : Đám tang lão Gô-ri-ô).

Qua đoạn trích, tác giả muốn phơi bày bản chất xấu xa của cả hai loại nhân vật : đám ngưòi quý phái, thượng lưu và tầng lớp bình dân lưu manh qua đại điện là Xuân Tóc Đỏ.

c.Chất trào phúng trong nhan đề

Hạnh phúc của một tang gia là nhan đề đã được lược bớt của chương XV trong tác phẩm Số đỏ. Nhan đề đầy đủ của chương do tác giả tự đặt là Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu.

Chọn đặt nhan đề Hạnh phúc của một tang gia, tác giả đã thu hút ngay từ đầu sự chú ý của người đọc vào một mâu thuẫn mang tính trào phúng. Gia đình có tang mà lại hạnh phúc ? Gia đình có người chết mà lại vui vẻ, sung sướng ?

Nếu quả thật trong thực tế có chuyện trái khoáy, ngược đời đó thì hạnh phúc ở đây chỉ có thể hiểu là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui ở đây chỉ có thể hiểu là niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu mà thôi.

Câu cửa miệng người ta thường nói “tang gia bối rối” vốn để chỉ tình cảnh bận rộn, lúng túng, lo lắng, rối bời trước mất mát của một gia đình có tang, thì ở đây tác giả cũng đã dựng lên đúng cảnh bối rối thực sự của cái đại gia đình cụ cố Hồng vào lúc cụ cố tổ qua đời. Tuy nhiên, toàn bộ sự lo lắng, bận rộn ở đây trong thực chất chỉ là lo làm sao để tổ chức cho thật to, thật linh đình một ngày vui, một đám hội cho mọi thành viên trong gia đình và thiên hạ cùng chứng kiến và thưởng thức một “đám ma gương mẫu”. Còn bối rối ? Thì quả là có bối

rối thật. Nhưng là cái bối rối lo làm sao giải quyết cho xong một vài việc còn dang dở đối với một vài thành viên trong gia đình để niềm vui và hạnh phúc do cái chết của cụ cố tổ đưa lại được thực sự mĩ mãn.

Như vậy, nhan đề Hạnh phúc của một tang gia vừa gây sự chú ý bởi tính hài hước, mỉa mai về một sự thật có vẻ ngược đời, trái khoáy nhưng đáng buồn thay lại đang xảy ra trong thực tế ; vừa cho người đọc thấy mà suy ngẫm về một vấn đề khác lớn hơn và đáng lo ngại hơn : tâm lí thực dụng tư sản, tâm lí bất chấp tất cả để chạy theo vật chất và đồng tiền trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy gỉờ đang chà đạp và làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống từng được coi là thiêng liêng và đáng trân trọng nhất của một xứ sở.

d.Tài nghệ trào phúng qua việc xây dựng các chân dung biếm hoạ

-Chân dung biếm hoạ cá nhân :

Cái chết của cụ cố tổ, như đã phân tích, rõ ràng là một sự kiện đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình của cụ. Điều có vẻ như một nghịch lí này, oái ăm thay lại là một sự thực khá mỉa mai và tàn nhẫn khi ta soi vàó tâm trạng và hành vi của từng thành viên trong đại gia đình ấy.

Ông Phán mọc sừng là thành viên được tác giả nhắc đến đầu tiên trong đám người nhận được tin vui ngay sau cái chết của cụ cố tổ. Cũng không phải ngẫu nhiên cụ cố Hồng lại chọn ông con rể quý hoá ấy là người đầu tiên để nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể một số tiền là vài ngàn đồng. Vì chính ông (xứng đáng là một đạo diễn tài ba) đã chỉ đạo cho anh chàng diễn viên tài ba là Xuân Tóc Đỏ nói cái câu cần nói cho cái người cần và phải được nghe, là cụ cố tổ. Cái kết quả ngoài cả sự mong đợi của mọi người ấy, xét một cách khách quan thì công lớn thuộc về Xuân, nhưng công đầu vẫn phải thuộc về ông, vì thử hỏi, mọi người sẽ còn phải đợi cái chết của ông cụ già đáng chết đến bao giờ nữa, nếu không có ông khôn ngoan đã trù tính trước và cài đặt cái câu : “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng !” vào miệng Xuân để Xuân, trong một cơn tức giận chính đáng, nã luôn cái câu nói ấy vào mặt cụ cố tổ ?

Cho nên, ông xứng đáng là người đầu tiên được hưởng thành quả từ cái chết của cụ cố tổ và phải là người đầu tiên được nghe cái lời hứa quý hoá của nhạc phụ về món tiền đáng kể kia. Niềm vui của ông đơn giản và khá phàm tục nhưng trải qua các cung bậc đúng với tâm lí của hạng con buôn gặp món bở : từ ngạc nhiên vì “không ngờ giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến như thế” đến tâm trạng hào hứng mơ tưởng một cuộc hợp tác doanh thương hiển hách với Xuân và dâng lên tới đỉnh với niềm phấn khích “muốn gặp ngay Xuân để trả nốt năm đồng”.

Niềm vui của cụ cố Hồng thuộc kiểu hiếu danh mù quáng đến mức ngu xuẩn và lố bịch. Đối với nhân vật kì quặc này, ông cụ thân sinh qua đời sẽ là một cơ hội hiếm có để cụ Hồng lên chức cụ cố trước mắt bàn dân thiên hạ, mặc dù về tuổi trời, cụ mới ngoài năm mươi ! Thế nhưng chỉ cần mơ tưởng đến thời khắc vinh danh ấy, cụ sung sướng mê tơi đến mức nhắm nghiền mắt lại rồi mơ màng, rồi tưởng tượng ra cái cảnh đau đớn, khổ não của mình cùng lời trầm trồ khen ngợi của đám đông đứng xem đám tang.

Niềm hạnh phúc của Vân Minh, con trai cụ cố Hồng có thể tạm gọi tên là niềm hạnh phúc điển hình của đám con cháu đại bất hiếu nhuốm màu lạnh lùng kiểu Tây phương hạ lưu. Đối với Văn Minh, cái chết của cụ tổ là một nốt son trong lịch sử gia đình. Vì nó chấm dứt cái thời kì chờ đợi sốt ruột và mỏi mòn thực đáng ghét để bước sang kỉ nguyên chia của và hưởng lợi đầy hân hoan ! Tâm trạng rộn ràng khiến Văn Minh bấn lên với bao nhiêu sự chen lấn giữa ngôn ngữ pháp đình với ngôn ngữ biểu cảm, tình thái nào luật sư, lí thuyết, thực hành, tố cáo, phạm tội, băn khoăn, phiền, phân vân,…

Niềm vui của sư cụ Tăng Phú thì lộ hẳn ra ngoài qua vẻ vênh váo ngồi trên một chiếc xe tham gia vào đội quân đưa tang cụ tổ mà như thể đang cụng một đội quân ca khúc khải hoàn vì chắc mẩm rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có ngưòi nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo, và như thế thì là một cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ mà Tăng Phú giữ vai trò cố vấn.

Các thành viên còn lại chỉ thực sự hạnh phúc khi cụ Hồng ra lệnh phát phục. Bởi đám tang cụ tổ là một sự kiện để mỗi người nhân đó có dịp trình diễn cái vai trò của cá nhân mình trước xã hội: bà Văn Minh sẽ trình diễn đồ xô gai thuộc dạng mốt tân thòi, Tuyết sẽ trình diễn bộ y phục cũng thuộc dạng mốt tân thời có tên là Ngây thơ để tiện thể cải chính vói thiên hạ rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh, cậu Tú Tân sẽ trình diễn tài nghệ chụp ảnh trong đám tang, còn ông Typn thì sẽ lắng nghe báo giới bình phẩm ra sao về những thiết kế tang phục của hiệu may Âu hoá.

-Chân dung biếm hoạ tập thể:

Niềm hạnh phúc do cái chết của cụ tổ đem lại không chỉ tràn ngập tâm hồn các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng mà còn ban phát cho cả nhiều hạng người ngoài xã hội. Đó là niềm vui bỗng lại có công ăn việc làm, tức là được thuê giữ trật tự cho đám ma, đồng nghĩa với cái mà ngôn ngữ thông tục ngày nay gọi là “có lộc” của hai cảnh binh thuộc bộ thứ 18 Min Đơvà Min Toa ; là niềm vui của những ông bạn thân của cụ cố Hồng, nhân dịp đến chia buồn với tang gia mà tiện thể khoe công trạng một đòi công chức của họ với đủ loại huân chương như : “Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh, vân vân…Tuy nhiên, cái đám đầy đủ râu ria rất đáng kính ấy còn mãn nguyện hơn nữa khi đến chia buồn bỗng lại được hưởng chút niềm vui khá trần tục là thưởng thức cái làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết.

Vói đám giai thanh, gái lịch Hà thành, những kẻ không dính líu chút nào về quan hệ bà con, họ hàng với người đã khuất thì niềm vui của họ là được đến đám tang để có cơ hội khoe về chuyện vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may. Đây cũng là dịp để họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau nữa.

Nhưng người hạnh phúc nhất có lẽ là Xuân, dù anh ta có vẻ như không ý thức được điều đó. Cái chết của cụ tổ đem lại cho Xuân hai món hời gồm cả danh dự lẫn tiền bạc. về danh dự, cái chết của cụ tổ đã khiến cho danh dự của Xuân to thêm, về tiền bạc, ông Phán mọc sừng đã lập tức thanh toán hợp đồng giết người ngay trong đám tang!

Theo như sở nguyện của hai vợ chồng cụ cố Hồng thì đám ma cụ tổ phải là một đám ma mẫu mực, to tát chưa từng có và cái đại gia đình ấy đã làm được điều đó.

Tuy nhiên, đây là một đám tang mẫu mực cho sự biến tướng quái gở trong lối sống của lớp ngưòi giàu có mới nổi chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của những thú vui phù phiếm, tầm thường, vô nghĩa lí với bất cứ sự kiện gì cũng có thể tạo thành một cuộc hội hè cho dù có là một đám tang đi nữa.

Điệp khúc “Đám cứ đi…” đã biểu lộ cho ai cũng có thể thấy đám tang đích thực là một đám rước, càng đi càng đông, đưa đi đến đâu làm huyên náo đến đấy.

Về tổ chức, đám tang này theo phong cách hổ lốn ! Nhạc điếu thì có đủ kèn Ta, kèn Tầu, kèn Tây thay nhau mà rộn lên như thể đua nhau mà tạo tiếng ồn. Phúng viếng lại càng đa tạp, trưng cả ra đường hàng trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa…

Người đưa tiễn kẻ quá cố đông đúc, sang trọng nhưng chen lấn giữa xe và người. Đã thế lại có đến một nửa là phụ nữ, phần lớn là tân thời. Chính vì thế mà càng ồn ào, huyên náo. Sự huyên náo, hỗn tạp do sự đua chen giữa các kiểu lời : từ thì thầm trò chuyện về vợ con, nhà cửa để khoe một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may đến việc chim nhau, cười tình với nhau, hẹn hò nhau bên cạnh những lời bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau lại còn những lời thì thào cùng nhiều câu vui vẻ, ý nhị khác nữa… Tất cả được che giấu qua quýt bằng những vẻ mặt làm ra bộ nghiêm chỉnh hoặc buồn rầu nữa, do đó mà giả dối, hài hước, đồi bại và lố lăng phô bày trọn vẹn sự suy đồi phong hoá.

Từ niềm hạnh phúc của các nhân vật do cái chết của cụ tổ đem lại và cảnh tượng của cái đám ma gương mẫu có thể thấy, qua sự lật tẩy sắc sảo của nhà văn Vũ Trọng Phụng, xã hội tư sản đương thời thực chất chỉ là sản phẩm quái gở của cơn sốt Âu hoá nông nổi và lố lăng phô bày trọn vẹn bản chất giả dối, suy đồi của nó. Thái độ của nhà văn về cái xã hội tư sản nửa mùa này là khinh bỉ, nhạo báng một cách cay độc trong một tiếng cưòi trào phúng mang sức mạnh triệt hạ, huỷ diệt.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

Có thể thấy để tạo được sức mạnh triệt hạ, huỷ diệt như thế, Vũ Trọng Phụng đã có những dụng công thực sự về mặt nghệ thuật trào phúng.

Nghệ thuật tạo tiếng cưòi của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích được thể hiện trên mấy phương diện sau:

a.Tạo các chân dung biếm hoạ bằng bút pháp phóng đại, cường điệu

-Biếm hoạ diện mạo, trang phục bằng cường điệu cái lố lăng.

-Biếm hoạ ngôn ngữ và hành vi bằng cường điệu cái lố bịch.

-Đặc tả tâm lí tiểu tư sản nửa mùa bằng cường điệu những cảm xúc và suy nghĩ mang nét quái gở của đối tượng.

b.Sử dụng bút pháp miêu tả tương ứng trong đối lập giữa nội tâm và ngoại hình để lật tẩy bản chất đối tượng.

Thái độ không khoan nhượng với tất cả mọi thứ che đậy, ngụy trang, giả dối một cách quyết liệt đã khiến Vũ Trọng Phụng trở thành một tài năng trong việc lật tẩy, soi thấu tim đen đối tượng. Nhà văn đã tinh quái chỉ cho độc giả thấy đằng sau cái dáng điệu “nhắm nghiền mắt lại” của cụ cố Hồng mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là đã quá đau xót vì mất bố kia thực chất chỉ là do cụ đang “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng” cái giây phút được thiên hạ trầm trồ khen già, khen đám ma to, khen cái gậy chống tang gia đẹp như thể một diễn viên đang chờ phút được lên sân khấu diễn kịch trước công chúng vậy.

Cũng như vậy, trong cái cách đi đi lại lại, “vò đầu rứt tóc”, “đăm đăm chiêu chiêu” của Văn Minh, con cụ cố Hồng mà ai cũng tưởng anh ta đang căm hờn cái định mệnh khắc nghiệt đã cướp ông nội của anh ta kia kì thực là y đang băn khoăn về vấn đề mời luật sư đến chứng kiến cái chết trên thực tế của cụ tổ để từ nay trở đi, việc chia của “không còn là lí thuyết viển vông nữa” ; là sự quá bối rối về vấn đề không biết xử trí thế nào trước tình thế nan giải giữa “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to” của Xuân.

Cứ thế, từ từng nhân vật cho đến cả cái xã hội thượng lưu tư sản nửa mùa ấy bị Vũ Trọng Phụng lật tẩy. Để đằng sau áo quần, ngựa xe và các mốt áo quần sang trọng, hợp thời trang, tất cả chúng chỉ là lũ ngợm nông cạn, phù phiếm, trần tục, giả dối đang vứt bỏ mọi giá trị truyền thống mà lao vào cái vùng sáng Âu hoá như một lũ thiêu thân.

c.Nghệ thuật pha trộn giọng điệu để tạo giọng điệu mới

Giọng hài hước bông đùa pha trộn với giọng châm biếm, công kích. Tiếng cười trào phúng thường vẫn toát ra từ giọng điệu. Nét độc đáo ở Vũ Trọng Phụng là sự pha trộn các sắc thái giọng, chẳng hạn :

-Giọng giễu nhại pha trộn với giọng giả vờ nghiêm trang.

-Giọng tường thuật khách quan pha trộn vói bình luận dí dỏm mà cay độc.

d.Nghệ thuật pha trộn từ ngữ để tạo từ ngữ mới

Tiếng khóc : “Hứt !… Hứt !… Hút của ông Phán mọc sừng trong đám tang cụ cố tổ rõ ràng là độc nhất vô nhị. Trong muôn vàn cung bậc của nỗi đau thương phát ra bằng âm thanh ta chưa từng nghe cái thanh âm nào lại lạ như thế. Vũ Trọng Phụng đã tạo ra nó dựa trên cơ sở nào ? Bởi trong bụng ông Phán mọc sừng vui, đang hoan hỉ với tiếng-cười Hì…hì… hì… do số tiền vài nghìn đồng được chia nhờ cái chết của cụ cố tổ nhưng ngoài mặt thì y không thể không làm ra bộ đớn đau, thương tiếc nên phải vờ khóc Hu… hu… hu… Vũ Trọng Phụng đem trộn cả hai thứ ấy vào nhau, thành ra cái tiếng “Hứt !… Hứt !… Hứt…” quái lạ ấy. Kĩ thuật pha trộn từ ngữ này của Vũ Trọng Phụng còn được sử dụng vài lần nữa trong một số sáng tác. Điển hình là tiếng “Nhịa” của ông cụ thân sinh Nguyễn Văn Phúc trong Trúng số độc đắc. Tiếng khóc quái lạ ấy của nhân vật nhìn ở góc độ khác còn là một thứ tín hiệu để gọi đối tác nhằm hoàn thành công việc thanh toán tiền công cho Xuân,kẻ đã tình cờ gây ra cái chết của cụ cố tổ ngay trong đám tang!

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHỮ NGƯỜI TỬ TỬ – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Có thể bạn quan tâm