Hướng dẫn đọc hiểu Ngữ Cảnh- Ngữ văn 11

Ngày 26/09 năm 2018 | Tin mới | Tag:

NGỮ CẢNH I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Khái niệm -Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó một yếu tố ngôn ngữ được sử dụng hoặc được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, đồng thời người nghe (người đọc) dựa vào bối cảnh đó mà lĩnh hội...

Rate this post

NGỮ CẢNH

I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1.Khái niệm

-Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó một yếu tố ngôn ngữ được sử dụng hoặc được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, đồng thời người nghe (người đọc) dựa vào bối cảnh đó mà lĩnh hội được lời nói, câu văn.

-Ngữ cảnh chỉ bối cảnh ngôn ngữ ở hai dạng giao tiếp ngôn ngữ là dạng nói và dạng viết. Ở dạng ngôn ngữ nói, ngữ cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ, bao gồm các nhân vật giao tiếp, bối cảnh rộng và bối cảnh hẹp. Còn văn cảnh (ngôn cảnh) là bối cảnh ngôn ngữ ở dạng viết: bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (âm, tiếng, từ, cụm từ, câu, đoạn) khác. Những yếu tố này tạo nên văn cảnh cho một yếu tố ngôn ngữ nhất định.

2.Các nhân tố của ngữ cảnh

-Nhân vật giao tiếp (người nói – người nghe; người viết – người đọc). Mỗi nhân vật giao tiếp có những đặc điểm về nhiều mặt: lứa tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, cá tính, địa vị xã hội, quan hệ xã hội, địa phương sinh sống, văn hoá,… những đặc điểm này luôn chi phối lời nói cá nhân và chi phối việc lĩnh hội lời nói của người khác.

-Bối cảnh ngoài ngôn ngữ:

+ Bối cảnh giao tiếp rộng (còn gọi là bối cảnh văn hoá): là bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lí, văn hoá, phong tục, thể chế chính trị,… ở bên ngoài ngôn ngữ.

Những yếu tố đó tạo nên môi trường giao tiếp, chi phối cả người nói và người nghe, cả quá trình tạo lập và quá trình lĩnh hội lời nói, câu văn.

+ Bối cảnh giao tiếp hẹp (còn gọi bối cảnh tình huống): thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống giao tiếp cụ thể.

+ Hiện thực được nói tới: tạo nên đề tài và nghĩa sự việc cho câu nói. Đối với từ ngữ, hiện thực được nói tới tạo nên phần nghĩa biểu vật, là cơ sở cho việc quy chiếu của từ ngữ.

-Văn cảnh : Đối với văn bản viết thì văn cảnh bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc đi sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó.

3.Vai trò của ngữ cảnh

Trong giao tiếp, ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng ở hai phương diện:

-Đối với người nói (viết), cũng là đối với quá trình tạo lập lời nói, câu văn, ngữ cảnh là cơ sở của việc dùng từ, đặt câu, kết hợp từ ngữ,…

-Đối với người nghe (đọc), cũng là đối với quá trình lĩnh hội, ngữ cảnh là căn cứ để lĩnh hội từ ngữ, câu văn, hiểu được nội dung, ý nghĩa, mục đích của nó.

II- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1.Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, có câu viết:

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tính chiêu vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ốtiq khói chạy đen sì, muốn ru cắn cổ.

Câu văn trên xuất phát từ bối cảnh: tin tức về kẻ địch đến đã phong thanh mười tháng nay, vậy mà lệnh quan (đánh giặc) vẫn chẳng thấy đâu. Người nông dân đã thấy rõ sự dơ bẩn của kẻ thù và căm ghét chúng mỗi khi thấy bóng dáng tàu xe của chúng.

2.Hồ Xuân Hương mở đầu bài thơ Tự tình (bài II) bằng hai câu thơ sau:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Hai câu thơ trên của Xuân Hương gắn với tình huống giao tiếp cụ thể: đêm khuya, tiếng trống canh dồn dập mà người phụ nữ thì cô đơn, trơ trọi,.. Câu thơ diễn tả tình huống, còn tình huống là nội dung đề tài của câu thơ. Tất nhiên, ngoài việc diễn tả tình huống, câu thơ còn bộc lộ tâm sự của nhân vật trữ tình.

3.Từ hoàn cảnh về cuộc sống của Tú Xượng, có thể thấy bà Tú là một người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó làm ăn để nuôi chồng, nuôi con. Bà Tú kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ. Những chi tiết trong hoàn cảnh sống của gia đình Tú Xương chính là bối cảnh tình huống cho nội dung các câu thơ trong bài (6 câu đầu). Ví dụ, việc dùng thành ngữ “một duyên hai nợ” không phải chỉ nói đến nỗi vất vả của bà Tú, mà xuất phát từ chính ngữ cảnh sáng tác: bà Tú phải làm để nuôi cả chồng và con.

4.Vào năm Đinh Dậu (1897), chính quyền mới do thực dân Pháp lập nên (nhà nước) đã bắt các sĩ tử Hà Nội xuống thi chung ở trường thi Nam Định. Theo thông lệ, kì thi Hương được tổ chức ba năm một lần. Những thông tin này chính là ngữ cảnh của câu thơ:

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Trong khoa thi Hương của năm Đinh Dậu ấy, Toàn quyền Pháp ở Hà Nội là Đu-me đã cùng vợ đến dự. Những sự kiện này chính là ngữ cảnh tạo nên câu thơ:

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra.

5.Bài tập nêu tình huống (bối cảnh giao tiếp hẹp) là: Lúc đi đường, hai người không quen biết gặp nhau. Trong tình huống đó, thường người ta không bao giờ đường đột hỏi về những chuyện riêng tư (có hay không có đồng hồ) mà chỉ hỏi nhau về những đề tài mang tính khách quan, có quan hệ đến mọi người. Chính vì thế, trong ngữ cảnh này, không thể hiểu câu hỏi của người đi đường là nói về đề tài cái đồng hồ mà phải hiểu đó là câu hỏi hỏi về thời gian, nhằm mục đích nêu nhu cầu cần biết về thời gian lúc đó.

XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ- NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Share

  • Tweet
  • Email

Related

Có thể bạn quan tâm