Đề thi tuyển sinh lớp 10 chuyên văn tỉnh Gia Lai năm 2012-2013

Ngày 17/03 năm 2019 | Tin mới | Tag:

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 CHUYÊN VĂN TỈNH GIA LAI Năm học 2012-2013 Thời gian: 150 phút Câu 1. Kết thúc đoạn thơ Kiều gặp Kim Trọng, Nguyễn Du viết: Bóng tà như giục cơn buồn Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo Dưới cầu nước chảy trong veo Bèn cầu tơ liễu bóng chiều...

Rate this post

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 CHUYÊN VĂN TỈNH GIA LAI

Năm học 2012-2013

Thời gian: 150 phút

Câu 1.

Kết thúc đoạn thơ Kiều gặp Kim Trọng, Nguyễn Du viết:

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bèn cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du – NXB Văn hóa, 2002)

Cảm nhận của em về hai câu thơ cuối trong đoạn thơ trên.

Câu 2.

Tục ngữ có câu: “Thời gian là vàng”. Em hiểu câu tục ngữ trên như thế nào?

Câu 3.

Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp qua hai tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao và Làng của Kim Lân.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Câu 1.

Có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý kiến, cảm thụ riêng miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Cụ thể cần nêu được một số ý như sau:

-Đặc điểm nổi bật trong bút pháp tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều thường là tả cảnh để thể hiện tâm trạng. Cảnh trong thơ Nguyễn Du nói riêng và cảnh trong thơ trung đại nói chung là tâm cảnh. Nguyễn Du nói rất rõ điều đó trong hai câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Vì thế, qua hai câu thơ tả cảnh trong đoạn trích trên có thể thấy rõ tâm trạng nàng Kiều.

-Có thể thấy cảnh trong hai câu cuối của đoạn thơ là một cảnh rất đẹp nhưng đượm buồn, một nỗi buồn man mác nhè nhẹ. Dòng nước trong veo và dáng liễu rủ dưới bóng chiều thướt tha bên cầu tạo nên một bức tranh đẹp. Nhưng chính dáng liễu và bóng chiều ấy cũng tạo nên nỗi buồn. Xưa nay, bóng liễu rủ và bóng chiều hoàng hôn luôn là biểu tượng của nỗi buồn và sự nhớ nhung.

-Cảnh trong hai câu thơ cuối trong đoạn thơ là cảnh đã được nhìn qua tâm trạng bâng khuâng, một tâm trạng vừa vui mừng, xôn xao vì gặp được người hào hoa, phong nhã, lịch thiệp… vừa buôn vì phải chia tay, chia xa, đúng là “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Xuân Diệu). Điều này là hết sức chính xác, vì dó là buổi đầu tiên Kim – Kiều gặp mặt, chia tay mỏ’ đầu cho mối tình 15 năm năm lưu lạc. Tâm trạng vui buồn ngổn ngang của nàng Kiều được thể hiện qua nghệ thuật sử dụng từ ngữ tinh diệu (tơ liễu, trong veo, thướt tha…).

Câu 2.

a.Yêu cầu về kĩ năng

Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài nghị luận xã hội, bô” cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, diễn đạt tốt; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b.Yêu cầu về nội dung

Có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau đôi chỗ có thể có những cảm nhận riêng nhưng phải hiểu đúng ý, tránh suy diễn tùy tiện và có sức thuyết phục người đọc. Đại ý:

*Giải thích

-Thời gian là khái niệm chỉ sự chuyển động của vật chất;

-Vàng là kim loại quí hiếm rất có giá trị;

So sánh thời gian là vàng để làm rõ giá trị của thời gian. Thời gian của vũ trụ là thời gian vô cùng vô tận, nhưng thời gian với cá nhân mỗi con người lại hữụ hạn, ngắn ngủi (Thời gian trôi qua là thời gian mãi ra đi không trở lại, không lấy lại được) nên người đời thường tiếc thời gian, ví thời gian cuộc đời như “bóng câu qua cửa”, “thời gian là vàng”…

*Phân tích – bình luận

-Vàng (kim loại Vàng) dù quí nhưng người ta có thể mua, trao đổi để có được thứ kim loại quí này (có thị trường và có thể mua bán được) nhưng thời gian thì không có gì mua được. Thời gian quí giá vô cùng (vô giá).

Thời gian là sự sống cho mỗi con người, mỗi sinh vật, thời gian sống một đi không trở lại (giới hạn). Không biết quí trọng thời gian, con người sẽ hối tiếc.

-Thời gian là quí giá với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực đời sống, nghề nghiệp …

-Thời gian là hiểu biết, là vốn sống được tích lũy, mở rộng thêo ngày tháng và sự chuyên cần.

-Thời gian quí giá hơn mọi thứ nên mỗi người (đặc biệt là học sinh đang học tập ở nhà trường) phải quí trọng thời gian. Biết sử dụng thời gian hợp lí, tận dụng thời gian sẽ làm được nhiều điều có ích cho bản thân và xã hội (có thể dùng dẫn chứng để minh họa).

(TC Đễ thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên – Môn NGỮ VĂN )

Câu 3.

a.Yêu cầu về kĩ năng

Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, diễn đạt tốt; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b.Yêu cầu về nội dung

Có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau. Đôi chỗ có thể có những cảm nhận riêng miễn là phải bám sát các tác phẩm, tránh suy diễn tùy tiện và có sức thuyết phục người đọc.

Cần làm nổi bật được: Thông qua so sánh hai nhân vật lão Hạc (Lão Hạc – Nam Cao) và ông Hai (Làng – Kim Lân) trình hày được suy nghĩ về hình ảnh người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, họ có những vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam và có những nét riêng của từng thời kì lịch sử. Cụ thể:

*Vẻ đẹp chung của người nông dân Việt Nam trong hai tác phẩm

-Cần cù chịu khó, một đời chăm lo làm ăn.

+ Lão Hạc: Khi còn sức lực thì cày thuê, cuốc mướn, khi già yếu vẫn đem chút hơi tàn còn lại để kiếm sống “Lão làm thuê kiếm ăn… cũng có được hơn trăm đồng bạc”.

+ Ông Hai phải xa làng chợ Dầu đi tản cư, vẫn hăng hái lao động “ông hì hục võ’ một vạt đất nằm ngoài bờ sắn… những tháng đói sang năm”.

-Có lòng nhân ái cao cả, có phẩm chất, lương tâm trong sạch:

+ Lão Hạc yêu thương con, vì nghèo không có tiền mà con trai lão không lấy được vợ, phải bỏ nhà, bỏ quê đi làm ăn xa. Lão luôn lo cho con, để dành tiền cho con, dù đau ốm, khó khăn thiếu thốn đến mức nhịn ăn nhưng quyết không tiêu vào tiền hoa lợi từ mảnh vườn để dành cho con.

Yêu thương cậu Vàng (con chó) như đứa con đặc biệt của mình. Lão là người nghèo khổ nhưng tự trọng: Gửi tiền ông giáo lo hậu sự cho mình để lúc nằm xuống khỏi phải phiền lụy đến dân làng. Lão thà chết để giữ trọn 3 sào vườn cho con trai.

+ Ông Hai cũng là người yêu thương con, yêu thương làng chợ Dầu “hai bố con nằm bên nhau… vỗ nhẹ lên lưng nó…”. Ông buồn đau khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây “Làng thì yêu thât… phải thù”.

*Vẻ đẹp riêng của nhân vật trong mỗi giai đoạn lịch sử:

+ Lão Hạc sống trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám. Cuộc đời lão từ khi vợ chết, chịu nhiều cơ cực, đau khổ. Là người nông dân nghèo, một mình nuôi con. Cái nghèo đói làm cuộc đời lão càng thêm tăm tối, bất hạnh. Lão ân hận khổ sở vì không có tiền cho con lấy vợ. Lão lo tiền cho con, lo tiền làm ma cho mình lúc chết hơn là lo cho cuộc sống hàng ngày của mình. Lão chọn cái chết, một cái chết đau đớn, vật vã về thể xác (ăn bả chó tự tử) để giữ lương tâm và phẩm giá trong sạch của mình.

+ Ông Hai nghèo khổ trong kháng chiến chông Pháp. Cách mạng đã đem đến cho ông sự suy nghĩ và hành động mói. Được sống trong tự do, được làm chủ, thoát khỏi sự áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến. Ông hể hả, vui mừng tự tin và hiểu rõ trách nhiệm của mình trước làng xóm, trước cách mạng. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân, một người nông dân thuần khiết như bao người nông dân Việt Nam khác mang trong mình tình yêu làng quê thật giản dị mà sâu sắc. ông thường hay nói về nó, kể về nó với một tâm trạng háo hức say mê: “Một ngôi làng với phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre, nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh, đường làng lát toàn đá xanh, cái sinh phần to đẹp của viên tổng đốc làng mình… và tự hào hơn bao giờ hết là làng ông đã theo kháng chiến những ngày đánh Tây gian khổ mà vui. Đó là cái làng mà cả giới phụ lão cũng vác gậy đi tập một hai trong những ngày khởi nghĩa dồn dập, cái làng với nhiều ụ, nhiều giao thông hào chuẩn bị cho khảng chiến…” Và khi phải đi tản cư rồi, ông vẫn bồi hồi không yên, luôn lắng nghe tin tức ở cái làng thân yêu của mình trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Ông đã xấu hổ, đau xót, căm giận khi nghe tin làng mình theo Tây, “cổ ông nghẹn đắng”, “nước mắt trào ra”… Và ông cũng thật hả hê, vui mừng, đi khoe khi được tin cải chính làng ông không theo Tây, làng ông bị tàn phá, nhà ông bị đốt. Nhưng đó là sự hi sinh mất mát đầy tự hào, mãn nguyện vì đó là làng kháng chiến, làng yêu nước. Ông vui mừng hả hê khi hiểu rõ sự tình… Hình ảnh một người nông dân gắn bó với quê hương, yêu làng, yêu cuộc sông, yêu nước, yêu Cụ Hồ và hăng hái kháng chiến…

*Người nông dân Việt Nam ở hai thời kì đều mang những nét đẹp đặc trưng tiêu biểu cho truyền thống nông dân Việt Nam. Đó là phẩm chất cần cù chịu khó, chăm chỉ lương thiện và giàu lòng nhân ái. Yêu nước, yêu quê hương (làng mình, mảnh vườn…). Cả hai nhân vật ông Hai và lão Hạc đều là những nông dân nghèo, chưa có nhận thức đầy đủ về giai cấp trước Cách mạng. Sau Cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp, người nông dân dưới ánh sáng Cách mạng đã tin và đi theo Đảng, theo Cách mạng, tham gia kháng chiến, vẻ đẹp ấy càng đẹp hơn bao giờ hết là tình yêu làng, yêu nước gắn với cách mạng và kháng chiến, không thỏa hiệp với kẻ thù, không đội trời chung với kẻ thù là Việt gian và bọn Tây xâm lược.

XEM THÊM ĐỀ VĂN 10 TẠI ĐÂY:http://hoc360.net/30950-2/?preview_id=30950&preview_nonce=428b8a74ab&_thumbnail_id=-1&preview=true

Có thể bạn quan tâm