Để học tốt ngữ văn 11- Tập 1 – Vào Phủ Chúa Trịnh

Ngày 17/06 năm 2018 | Tin mới | Tag:

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH (Trích Thượng kinh kí sự – LÊ HŨU TRÁC) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (ông lười ở Hải Thượng), quê ở Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương cũ (nay thuộc huyện Yên...

Rate this post

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Thượng kinh kí sự – LÊ HŨU TRÁC)

I.KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (ông lười ở Hải Thượng), quê ở Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương cũ (nay thuộc huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên). Lê Hữu Trác là một danh y, không chỉ chữa bệnh giỏi mà còn soạn sách và mở trường dạy nghề thuốc để truyền bá y học.

Lê Hữu Trác quê gốc ở trấn Hải Dương nhưng ông lấy vợ rồi vào ngụ cư ở quê ngoại (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Phần lớn cuộc đời hoạt động y học và sự nghiệp trước tác của ông về cơ bản là gắn bó với mảnh đất này.

Ngoài y thuật, Lê Hữu Trác còn là một nhà văn và là một nhà thơ lớn. Trước tác của ông được tập hợp trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh (gồm 66 quyển). Đây là công trình nghiên cứu y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam, đồng thời cũng là những dòng lưu bút ghi lại những cảm xúc hết sức chân thành của tác giả trong những lúc lặn lội đi chữa bệnh ở các miền quê xa.

2.Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) là tập kí sự bằng chữ Hán, viết năm 1782, hoàn thành năm 1783, khắc in năm 1885. Tập kí sự được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như là một quyển phụ lục. Tác phẩm được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyên, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

3.Thượng kinh kí sự ghi lại những chuyện mắt thấy tai nghe của Lê Hữu Trác trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm. Tập kí sự tả lại quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và thế lực, quyền uy của nhà chúa. Câu chuyện kết thúc với việc Lê Hữu Trác được về lại quê nhà, trở về với cuộc sống tự do trong tâm trạng hân hoan để tiếp tục cống hiến đời mình cho y thuật.

II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Đoạn trích Vào phủ chúa Trinh ghi lại một cách khá tỉ mỉ quang cảnh và những sinh hoạt trong phủ chúa qua con mắt của một thầy thuốc miền quê tuy là “con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết. Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi”.

Qua ngòi bút khá chân thực của tác giả, quang cảnh nơi phủ chúa hiện lên cực kì xa hoa, tráng lệ và không kém phần thâm nghiêm. Cảnh nói lên uy quyền tột bậc của nhà chúa.

-Âm thầm quan sát, người thầy thuốc phát hiện ra rằng: vào phủ chúa phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

-Bên trong phủ bày biện toàn những đồ sang trọng như: kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng rồi những đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”. Trong nội cung thế tử cũng vậy: phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”.

Có thể nói, chính những gì đang hiển hiện ra trước mắt người đọc đã tự nói lên tất cả cái quyền uy tối thượng đang nằm trong tay nhà chúa cũng như nếp hưởng thụ cực kì xa xỉ của Trịnh Sâm và gia đình chúa.

Cùng với sự xa hoa trong quang cảnh là cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

-Đầu tiên, khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh của chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường”. “Cáng chạy như ngựa lồng” khiến người trong cáng “bị xốc một mẻ, khổ không nói hết”. Trong phủ chúa, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”.

-Trước cảnh sang trọng chưa từng thấy, tác giả thậm chí còn xúc động tức cảnh đề thơ. Qua bài thơ này, người đọc như càng được minh chứng rõ thêm về sự quyền uy và sang trọng bậc nhất của phủ chúa:

Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt,

Cả trời Nam sang nhất là đây!

Lầu từng gác vẽ tung mây,

Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào.

Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,

Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.

-Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ (“Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc),…)-

-Trong cuộc tiếp kiến ấy, tác giả cũng không được thấy mặt chúa. Tất cả những mệnh lệnh của chúa đều được phán bảo qua quan Chánh đường hoặc người truyền mệnh. Thầy thuốc xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi vị thầy thuốc cũng phải “nín thở” khi đứng chờ ở xa và “khúm núm” khi đến trước sập để xem mạch cho thế tử.

-Thế tử ốm và lúc nào cũng có đến bảy, tám thầy thuốc phục dịch. Lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”. Thế tử tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc đều phải cúi lạy cung kính, lễ phép. Trước khi cho thầy thuốc xem thân hình, một viên quan nội thần phải đến xin phép được cởi áo cho thế tử.

Những chi tiết vừa nêu là những ghi chép chân thực, sắc sảo về cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa đồng thời cũng kín đáo bộc lộ thái độ coi thường lợi danh của người thầy thuốc giàu y đức.

2. Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng. Ví như chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban một lời khen “rất trẻ con”: “Ông này lạy khéo !”. Hoặc ở một chi tiết khác khi tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…”. Phòng ở của thế tử như thế thì làm sao có thể không bị bệnh được? Nó quá ngột ngạt với một khung cảnh nặng nề bởi vàng son gợi sự tù đọng và bức bối.

Có thể nói, đọc đến chi tiết này, nhiều người đã có thể cắt nghĩa được nguyên nhân căn bệnh của thái tử Cán. Một đứa trẻ còn quá nhỏ lại bị “giam hãm”nơi thâm cung không có ánh sáng ban ngày thì làm sao có được sinh lực tự nhiên để sống.

Truyện còn có nhiều chi tiết khác cũng sắc sảo như vậy: chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (“có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”), rồi chi tiết miêu tả những dụng cụ dùng để ăn uống, những món ăn khi quan Chánh đường mời thầy thuốc dùng bữa sáng,… Lời văn của tác giả rất tự nhiên, không hề có chút cường điệu nào. Cũng chính bởi thế mà việc ăn chơi hưởng lạc xa hoa của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc không cần thêm một lời bình luận nào.

3.Như trên đã nói, trong khi quan sát quang cảnh và cuộc sống nơi phủ chúa, Lê Hữu Trác giữ một thái độ rất khách quan. Lời văn khá lạnh lùng và cứng rắn. Chỉ khi đoán bệnh và nhất là lúc chuẩn bị kê đơn thuốc cho Trịnh Cán, tác giả mới có những dòng miêu tả những suy nghĩ nội tâm. Mặc dù vậy, dõi theo từng bước đi của người thầy thuốc, người đọc có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ khá sâu sắc của nhà văn:

-Đứng trước cảnh xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ nơi phủ chúa, tác giả nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa khác hẳn người thường”. Trước cảnh ấy, tác giả đã vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả nơi phủ chúa. Trong bài thơ ấy, tác giả đã phải thốt lên: “Cả trời Nam sang nhất là đây!”.

+ Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả đã khéo léo bày tỏ nhận xét: “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

Qua những chi tiết trên, có thể nhận thấy, tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất này, đồng thời có những biểu hiện chứng tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống tuy quá no đủ và tiện nghi nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do.

-Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác khi chữa bệnh cho thế tử còn diễn biến phức tạp hơn. Thăm bệnh xong, người thầy thuốc đã hiểu được rõ nguyên nhân căn bệnh của thái tử. Ông đưa ra những luận giải rất hợp lí, có cách chữa trị riêng. Nhưng trong lúc ấy, ông lại lo nếu chữa bệnh hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, lúc đó lại bị trói buộc bởi vòng danh lợi. Thoáng nghĩ đến việc kê một đơn thuốc vô thưởng, vô phạt nhưng rồi ông lại quên ý nghĩ đó ngay. Việc làm ấy trái với y đức, trái với lương tâm ông và thậm chí phụ lòng trung của tổ tiên. Hai suy nghĩ đó giằng co, xung đột với nhau. Cuối cùng ông đã chọn theo lương tâm, phẩm chất của người thầy thuốc. Ông thẳng thắn đưa ra bài thuốc của mình – một bài thuốc trái với ý của nhiều người khiến quan Chánh đường thậm chí có ý đắn đo.

Từ những chi tiết về việc chữa bệnh của/ thầy thuốc Lê Hữu Trác, có thể thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu và rộng.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một người thầy giàu y đức.

+ Trên cả những điều đó là một thái độ coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà. Quan điểm này tất nhiên cũng gián tiếp cho thấy, tác giả không đồng tình với lối sống xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia.

4.Từ những điều đã phân tích trên đây, có thể thấy đặc sắc trong nghệ thuật viết kí sự của nhà văn được bộc lộ ở những điểm sau:

-Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

-Nội dung ghi chép trung thực.

-Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Điểm chung của đa số các tuỳ bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy. Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật. Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại).

Share

  • Tweet
  • Email

Related

Có thể bạn quan tâm