Để học tốt ngữ văn 11 – Tập 1 – Câu Cá Mùa Thu

Ngày 01/08 năm 2018 | Tin mới | Tag:

CÂU CÁ MÙA THU (Thu điếu – NGUYỄN KHUYẾN) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) hiệu là Quế Sơn, lúc nhỏ tên là Nguyễn Thắng. Nguyễn Khuyến sinh tại quê ngoại xã Hoàng Xá (nay là xã Yên Trung), huyện Ý Yên, Nam Định nhưng ông sống và lớn lên chủ...

Rate this post

CÂU CÁ MÙA THU

(Thu điếu – NGUYỄN KHUYẾN)

I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1.Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) hiệu là Quế Sơn, lúc nhỏ tên là Nguyễn Thắng. Nguyễn Khuyến sinh tại quê ngoại xã Hoàng Xá (nay là xã Yên Trung), huyện Ý Yên, Nam Định nhưng ông sống và lớn lên chủ yếu ở quê nội (làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam).

Nguyễn Khuyến xuất thân trong gia đình Nho học. Bản thân ông cũng từng ba lần đứng lên bậc cao nhất của ba cấp thi trong hệ thống thi cử trường ốc phong kiến ngày xưa (thi Hương, thi Hội, thi Đình). Chính bởi vậy mà ông còn được dân gian gọi với một cái tên thân mật là cụ Tam nguyên Yên Đổ. Tuy đỗ đạt cao nhưng Nguyễn Khuyến chỉ làm quan hơn mười năm. Nhận ra sự kèn cựa phức tạp của chốn quan trường, hơn nữa thời thế loạn lạc, ông xin từ quan về quê dạy học, vui thú với cuộc đời thanh bạch. Nguyễn Khuyến là người có tài năng, hơn thế, ông còn là người có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân. Hiện còn khá nhiều câu chuyện hay giai thoại nói về thái độ kiên quyết không hợp tác của ông với thực dân Pháp.

2.Trước tác của Nguyễn Khuyến hiện còn trên 800 bài văn, thơ và câu đối gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, trong đó chủ yếu là thơ. Thơ Nguyễn Khuyến thể hiện nổi bật tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình bạn; phản ánh cuộc sống khổ cực nhưng thuần hậu và chất phác của nhân dân. Một phần không nhỏ trong di sản thơ của Nguyễn Khuyến là những bài thơ châm biếm, đả kích thực dân Pháp xâm lược, tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ lòng ái ưu với dân với nước. Nguyễn Khuyến được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). Những đóng góp của ông về thơ trào phúng và ngôn ngữ thơ Nôm cho nền văn học dân tộc cũng là rất đáng kể.

3.Câu cá mùa thu (Thu điếu) nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, vẻ đẹp của cảnh thu trong bài thơ là vẻ đẹp điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bài thơ cũng đồng thời thể hiện tâm trạng ưu thời mẫn thế, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

II– HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1.Nguyễn Khuyến mở đầu bài Vịnh mùa thu (Thu vịnh) bằng cảnh:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như từng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Nghĩa là cảnh thu được đón nhận từ cao xa tới gần rồi từ gần đến cao xa (từ trời thu, cần trúc đến mặt nước biếc, đến song thưa rồi lại trở lên cao với tiếng ngỗng trời) thì ở Câu cá mùa thu cảnh thu lại được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: điểm nhìn cảnh thu là từ chiếc thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu. Từ điểm nhìn ấy, từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động.

2.Cảnh trong Câu cá mùa thu được xem là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). Không khí mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật. Cảnh thu được miêu tả qua màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt qua đường nét: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng. Xuân Diệu đã phát hiện ra sự kết hợp các màu sắc trong bài thơ là một sự kết hợp rất độc đáo: “cái thú vị của bài Thu điếu là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”. Không gian thu dường như cũng thu gọn lại với ao thu nhỏ, với chiếc thuyền câu bé tẻo teo và với cái dáng người cũng như đang thu lại. Cảnh thu trong bài thơ gợi những nét riêng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cái hồn dân dã của làng quê được gợi lên từ ao thu (với cái nét đặc trưng là khung, ao hẹp), từ cánh bèo và từ ngõ trúc quanh co.

3.Cảnh thu trong Câu cá mùa thu là cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn. Không gian mùa thu trong bài thơ là một không gian tĩnh, vắng người, vắng tiếng (Ngõ trúc quanh co khách vắng teo). Các chuyển động trong bài thơ đều rất nhẹ, rất khẽ dường như không đủ để tạo âm thanh: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa. Cuối bài thơ có một tiếng động gợi âm thanh duy nhất, đó là tiếng cá động nhưng có thể thấy rất rõ cái tiếng cá đớp động dưới chân bèo ấy chỉ có ý nghĩa càng làm tăng thêm sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Nó là cái động để nhận ra tất cả không gian xung quanh đều yên ắng quá.

Không gian tĩnh đem đến sự cảm nhận về một nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ. Bài thơ nói chuyện câu cá mà thực ra người đi câu không chú ý gì vào việc câu cá. Nói câu cá nhưng thực ra là đón nhận trời thu, cảnh thu vào lòng. Trong bức tranh thu, xuất hiện nhiều gam màu lạnh: độ xanh trong của nước, độ xanh biếc của sóng, độ xanh ngắt của trời. Cái lạnh của cảnh hợp với cái lạnh của ao thu, của trời thu thấm vào tâm hồn nhà thơ. Hoặc giả cũng có thể cái lạnh từ chính tâm hồn nhà thơ đang lan toả ra cảnh vật vậy. Bài thơ gợi tâm sự một cách thầm kín, kín đáo đến mức chỉ có thể cảm nhận bằng những đổi thay rất tế vi trong những nét vẽ mùa thu. Cái dáng vèo của lá vàng dường như xuất hiện lạc lõng nhưng nó lại rất hợp với cái tâm sự thời thế của nhà thơ – một sự đau buồn trước thay đổi quá nhanh chóng của thời thế. Đất nước thoáng chốc đã rơi vào tay giặc mà mình thì không thể làm gì để giúp nước, giúp dân. Cái thế ngồi bó gối ôm cần đầy tâm trạng của nhà thơ ờ hai câu thơ cuối cũng góp phần thể hiện nổi bật tâm tư ấy.

4.Câu cá mùa thu là một minh chứng sinh động về sức biểu đạt của ngôn từ tiếng Việt. Ngôn ngữ thơ trong Câu cá mùa thu giản dị, trong sáng đến mức kì lạ, có khả năng biểu đạt một cách xuất sắc những biểu hiện rất tinh tế của cảnh vật cũng như những uẩn khúc thầm kín rất khó giãi bày của tâm trạng.

Câu cá mùa thu thành công nhiều mặt về nghệ thuật trong đó độc đáo nhất là cách gieo vần. Vần “eo” là một vần khó luyến láy, khó vận, thế nhưng nó lại được Nguyễn Khuyến sử dụng một cách rất thần tình. Vần “eo” hợp ở tất cả các câu bắt buộc (câu 1, 2, 4, 6 và câu 8). Nó góp phần diễn tả rất rõ cái cảm giác sắc, nhọn, cảm giác về một không gian thu nhỏ hẹp dần và khép kín lại, tạo nên sự hài hoà rất mực với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhân vật trữ tình.

Cùng với cách gieo vần độc đáo, bài thơ còn rất thành công trong nghệ thuật lấy động để tả tĩnh. Để gợi ấn tượng sâu đậm về cái yên ắng, cái tĩnh lặng của tâm trạng, tác giả xen vào một điệu “vèo” của lá và bâng khuâng đưa vào một âm thanh như có như không của tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”.

Cái hay của việc sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ còn được thể hiện ở việc sử dụng các tính từ: trong veo, biếc, xanh ngắt, lơ lửng và các cụm động từ: gợn tí, khẽ đưa để làm nổi bật cảnh thu thanh sơ, dịu nhẹ mà thấm đậm hồn thu xứ Việt.

5.Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Điều này hẳn là đã rõ, bởi nếu không phải xuất phát từ sự gắn bó và niềm yêu thương tha thiết thì không thể vẽ nên một bức tranh thu đẹp, rất đặc trưng và có hồn như thế. Cảnh thu đẹp nhưng không phủ nhận được cảnh có nét buồn phảng phất. Cảnh buồn một phần bởi thi đề mùa thu trong văn học vốn đã gắn với những nét buồn sầu man mác nhưng có lẽ cái nét buồn vương vấn trong bài thơ chủ yếu là cái nét buồn lan ra từ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Như đã nói, bài thơ không bộc lộ trực tiếp bất cứ cảm xúc nào của tác giả. Suốt từ đầu đến cuối bài thơ, người đọc mới thấy nhân vật trữ tình xuất hiện nhưng là xuất hiện trong cái tư thế của người đi câu (Tựa gối buông cần lâu chẳng được) mà thực không phải thế. Đó là tư thế của con người u uẩn trong nỗi lo âu triền miên, chìm đắm. Cái tình của Nguyễn Khuyên đối với đất nước, đối với non sông không thể nói là không sâu sắc. Chỉ có điều nó trầm lặng, da diết, đậm chất suy tư.

XEM THÊM ĐỂ HỌC TỐT NGỮ VĂN 11 – TẬP 1 – TỰ TÌNH TẠI ĐÂY

Share

  • Tweet
  • Email

Related

Có thể bạn quan tâm